Bề mặt da căng chắc, trên da đóng một lớp muối trắng (vitamin C), quá trình di chuyển vi- tamin C còn tiếp tục một vài giờ sau.
Do vitamin C thẩm thấu mạnh, sâu, tạo ra nồng độ cao dưới da như vậy nên hoạt tính được tăng cường mà không một chế phẩm dùng ngoài nào sánh kịp. Có thể tóm tắt một số hiệu quả của kỹ thuật này:
Làm giảm sự gia tăng hắc tố melanin bất thường, điều trị được nám và các kiểu thâm da (do mụn nhọt, sẹo, phỏng, tắm nắng, lột da mặt).
Xúc tác trong việc tạo ra collagen ở lớp bên dưới da, làm đầy và căng lớp da bên trên, do đó làm giảm nếp nhăn, giảm sẹo lõm (do rỗ, mụn trứng cá).
Tác động vào các chuỗi nhiễm sắc thể, ngăn chặn quá trình lão hóa da.
Ngăn chặn tế bào chết do lipoperoxide, từ đó hạn chế tiết bã nhờn.
Loại trừ oxygen hoạt tính, từ đó phối hợp với các kem chống nắng, hạn chế ảnh hưởng của tia tử ngoại.
Ngay sau điều trị bằng điện chuyển ion vitamin C, bề mặt da căng chắc, trên da đóng một lớp muối trắng (vitamin C), quá trình di chuyển vi- tamin C còn tiếp tục một vài giờ sau. Vì vậy không tẩy rửa vùng điều trị ngay. Để đạt hiệu quả mong muốn phải lặp lại nhiều lần, mỗi lần cách nhau một, hai tuần. Sau đó lặp lại duy trì hàng tháng.
Trong kỹ thuật thẩm mỹ da còn nhiều công nghệ khác: siêu mài da, laser thế hệ mới, sóng RF. Kết hợp kỹ thuật điện chuyển ion vitamin C với các kỹ thuật này sẽ tạo ra một chuỗi kỹ thuật liên hoàn, khắc phục được hầu hết các khiếm khuyết trên da, làm trẻ hóa, đẹp da khá hoàn thiện.
Phương pháp điện di ion viotaliont xuất phát từ Nhật, do Bs Harue Suzuki Giám đốc thẩm mỹ viện Suzuki và Giáo sư Nobuhiko Miwa khoa Nghiên cứu sinh Đại học Hiroshima nghiên cứu thành công đưa vào dùng năm 2002, hiện đã được áp dụng rất rộng rãi ở Nhật, Hàn Quốc, Singa- por, Trung Quốc và ở các nước tiên tiến khác. Trong vài năm trở lại đây phương pháp này đã được du nhập vào các thành phố lớn nước ta.
Vitamin E có nên dùng bổ sung hay không?
Thiếu Vitamin Bl bị bệnh tê phù, thiếu vitamin c bị bệnh chảy máu chân răng, thiếu vitamin D bị bệnh còi xương, song thiếu vitamin E hầu như không có một biểu hiện bệnh lý nào rõ rệt. Có lẽ vì thế, dù được tìm ra từ năm 1922, vai trò của vitamin E vẫn bị lu mờ. Từ năm 1990, vitamin E mới trở thành vấn đề thời sự trong y học và dinh dưỡng khi phát hiện ra cơ chế tác dụng tinh tế của nó: cơ thể khi làm nhiệm vụ chuyển hóa, khi tiếp xúc với thuốc men, hóa chất, khói bụi, chất độc, tia tử ngoại sẽ sinh ra các gốc tự do (GTD).