Việc thiếu kẽm có hại nhưng việc thừa kẽm cũng không có lợi. Khi có các biểu hiện thiếu kẽm, nên làm xét nghiệm.
Theo một nghiên cứu tại viện dinh dưỡng quốc gia nước ta, khoảng 25-40% trẻ em và hầu hết nữ ở tuổi sinh đẻ thiếu kẽm. Việc thiếu kẽm có hại nhưng việc thừa kẽm cũng không có lợi. Khi có các biểu hiện thiếu kẽm, nên làm xét nghiệm. Mức kẽm bình thường trong máu là 100 mcg/lOOml. được coi là thiếu khi dưới 70 mcg/100 ml. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất là móng tay có bớt trắng, quáng gà, da bị sừng hóa, khô ráp, rụng tóc, tiêu chảy, bị bệnh nhiễm khuẩn tái đi tái lại, mụn vết thương, bị mụn, vết nhọt lâu lành, biếng ăn, giảm cân, suy nhược cơ thể, không minh mẫn, với nam dễ bị u xơ tiền liệt tuyến, với nữ khi có thai có nhiều tai biến. Bệnh Acrodmatitis Enteropacthica (do di truyền cơ thể không hấp thu kẽm), da bị nám xung quanh khuỷu tay, đầu gối mặt, chậm lớn.
Khi vì một lý do nào đó dẫn đến thiếu kẽm, nên dùng các thực phẩm chức năng có bổ sung kẽm (như sữa sữa tươi Nuvi) hay vitamin phối hợp với các muối khoáng có chất kẽm (trong các biệt dược này mỗi viên thường chứa 10-15 mg kẽm bằng với nhu cầu kẽm mỗi ngày của trẻ từ 13 tuổi trở lên và người trưởng thành). Cũng có thể dùng muối kẽm glu-conat hay natrizincat.
Một số đối tượng sau đây cần bổ sung kẽm: Trẻ em nếu biếng ăn chậm lớn. Người có thai cho con bú. Đàn ông từ 40 tuổi trở lên, đặc biệt là người bị u xơ tuyến tiền liệt, yếu sinh lí rối loạn cương dương, người già.
Khi dùng kẽm nên dùng thêm vitamin A, B6, C, phospho. Những chất này làm tãng sự hấp thu, tăng hoạt tính của kẽm. Nếu dùng cả sắt vã kẽm thì nên dùng cách xa nhau vì sắt làm chậm sự hấp thu kẽm. Khi dùng làm tăng miễn dịch chống nhiễm khuẩn thì không được dùng quá 150 mg/ngày (nếu nhiều quá kẽm sẽ lại ức chế miễn dịch).
Kẽm cần cho mọi người, nam cần hơn nữ, đặc biệt cần cho người có thai, cho con bú để cung cấp cho thai nhi và trẻ nhỏ, cũng như đặc biệt cần khi trẻ trưởng thảnh. Bởi vậy, thuốc có chứa kẽm được quảng cáo là làm tăng chiều cao, cân nặng. Đương nhiên cần hiểu kẽm không phải là yếu tố duy nhất.
Dinh dưỡng chung và chiều cao.
Thế nào là giới hạn chiều cao trong khuôn khổ di truyền.
Nói một cách nôm na là chiều cao của con xấp xỉ chiều cao trung bình của bố và mẹ. Chiều cao của con (H) bằng chiều cao trung bình của bố (h1) và mẹ (h2).
H = (h1+h2)/2
Thực ra, chiều cao của con thường phụ thuộc vào bố nhiều hơn nghĩa là H = k1h1+ k2k2 : 2 trong đó k1> k2 nhưng ở đây dùng công thức tạm tính trên cho dễ hiểu.