Cảm nhận

Kiến thức là một năng lực sử dụng rất hiệu lực của trí tuệ dẫn tới những thay đổi rất tích cực trong cơ thể. Những cảm nhận về yêu, ghét, vui sướng và phát nôn, kích thích cơ thể theo các hướng cực kỳ khác nhau. Nói tóm lại là cơ thể chúng ta là những kết quả vật chất của tất cả những cách hiểu mà chúng ta đã được học hỏi để thực hiện kể từ khi mới được sinh ra.
Một số bệnh nhân được cấy ghép cho biết có một cảm nhận kỳ lạ sau khi nhận được một quả thận, là gan hoặc trái tim hiến tặng. Không biết ai là người đã cho cơ quan, song chúng bắt đầu góp phần vào ký ức của người đó. Khi các mô của người này được cấy cho người kia thì những liên tưởng đã thuộc về người kia bắt đầu xuất hiện. Có một trường hợp một người phụ nữ tỉnh lại sau khi được ghép tim lại thèm bia và thịt gà McMuggets; bà ta đã rất ngạc nhiên vì trước kia bà ta chưa hề thích hai thứ đó. Sau khi người phụ nữ này bắt đầu có những giấc mơ khó hiểu, mà trong đó bà ta thấy một anh thanh niên tên là Timmy đến với bà, thì bà đã theo dõi và phát hiện được người cho bà quả tim mới là nạn nhân của một tai nạn giao thông gây tử vong; khi bà ta tiếp xúc với gia đình nạn nhân thì hóa ra nạn nhân là một thanh niên có tên là Timmy. Rồi bà này lại sửng sốt khi phát hiện rằng cậu này thích uống bia và bị chết trên đường từ nhà hàng McDonald về nhà.
Thay vì cố tìm một cách giải thích siêu tự nhiên cho những việc bất ngờ như vậy, thì người ta lại có thể thấy chúng như sự khẳng định rằng cơ thể chúng ta được tạo ra bởi những trải nghiệm đã được biến đổi thành sự biểu hiện vật chất. Vì trải nghiệm là một điều gì đó mà chúng ta thu nhận, nên tế bào của chúng ta đã được truyền dẫn bằng những ký ức của chúng ta; như vậy, nhận những tế bào của người khác là đồng thời nhận cả ký ức của họ.
Tế bào của bạn không ngừng gia công điều trải nghiệm và chuyển hóa nó theo quan điểm riêng của bạn. Bạn không chỉ rót những dữ liệu thô qua mắt và tai rồi ghi dấu ấn nhận xét, xét đoán lên đó. Thực tế bạn đổi thành cách hiểu như bạn tiếp thu nó. Có người phiền não vì mất việc làm đã gây cho sự buồn chán đó tỏa khắp nơi trong cơ thể mình – khả năng sản xuất chất trung gian hóa học dẫn truyền thần kinh bị suy yếu đi, các mức nội tiết tố giảm xuống, chu kỳ ngủ bị gián đoạn, các thụ thể peptid trên bề mặt các tế bào da bị méo mó, và ngay cả nước mắt của người đó cũng có những dấu vết hóa chất khác hơn nước mắt của niềm vui.

Cảm nhận là một hiện tượng thông thái

Tập hợp những thông tin và năng lượng mà chúng ta gán cho cây cối, các vì sao, núi non, biển cả cũng có thể được gọi là những ý nghĩ của Tự nhiên, nhưng về một khía cạnh quan trọng thì những ý nghĩ của chúng ta có khác. Tự nhiên gắn chặt với những tư tưởng của nó một khi mẫu hình của chúng đã được cố định; các vật như các ngôi sao, cây cối diễn biến theo một chu kỳ sinh trưởng tự động qua các giai đoạn sinh, phát triển, phân hủy – và tan biến.
Song chúng ta thì không gắn chặt vào chu kỳ sống của mình; do hiểu biết mà chúng ta tham gia vào mỗi phản ứng diễn ra bên trong chúng ta. Vấn đề sẽ nảy sinh khi chúng ta không có trách nhiệm về những gì chúng ta đang làm. Trong cuốn sách Vũ trụ toàn ký của mình, Michel Talbot đã đưa ra một so sánh rất hay với Vua Midas: Vì mọi thứ ông đụng vào đều biến thành vàng nên Midas không bao giờ có thể biết được cấu trúc đích thực của bất cứ vật gì. Nước, lúa, mì, thịt, hoặc lông vũ, tất thảy đều biến ngay thành thứ kim loại cứng đó khi ông đụng tay vào chúng. Cùng một ý như vậy, vì ý thức của chúng ta đã biến trường lượng tử thành cái thực tại vật chất thông thường nên chúng ta không thể nào biết được cấu trúc đích thực của chính cái thực tại lượng tử đó qua năm giác quan của chúng ta, hoặc bằng cách suy nghĩ về nó, vì một suy nghĩ cũng có thể biến đổi cả một trường – tạo ra khả năng chân không tuyệt đối và hình thành sự biến không gian – thời gian đặc trưng.
Cái mà bạn gọi là cơ thể của bạn cũng là một sự biến không gian – thời gian đặc trưng, và do trải nghiệm về tính vật chất của nó mà bạn đã không hiểu được, không thấy được cái sờ của Midas làm biến đổi cái tiềm năng hoàn toàn trừu tượng thành một vật rắn. Nếu bạn không nhận thức được ý thức thì bạn sẽ không thể hiểu được chính bạn trong hành động biến đổi.
Cảm nhận là một hiện tượng thông thái.
Sức mạnh của ý thức sẽ không tạo ra được một khác biệt nào trong đời sống của chúng ta nếu như Tự nhiên lại trang bị cho tất cả chúng ta bằng những đáp lại tương tự để trải nghiệm. Thì rõ ràng là điều này đã không xảy ra; không có chuyện hai người lại chia sẻ cùng cảm nhận như nhau về bất cứ vật gì. Khuôn mặt của người bạn yêu dấu có thể là khuôn mặt của kẻ thù độc ác nhất của tôi; thức ăn mà bạn ao ước, thèm thuồng có thể làm cho tôi buồn nôn. Những đáp lại này tự mình phải được học hỏi, đó là cội nguồn của những khác biệt phát sinh.

Y học và ý nghĩa

Tuy nhiên sau thời gian mười năm theo đuổi những chủ đề của mình. Spiegel đã kinh ngạc khi thấy rằng nhóm được nhận liệu pháp đã sống thêm được trung bình lâu gấp đôi so với nhóm không có được liệu pháp nào. Có hiệu quả gấp đôi là chỉ cần ba người phụ nữ còn sống đến gần hôm nay, tất cả họ đều thuộc nhóm được thực hiện liệu pháp tâm lý. Công trình nghiên cứu này gây sửng sốt vì nhà nghiên cứu không mong chờ một hiệu quả nào cả. Chỉ mới một thập niên mà những khám phá tương tự của các nhà nghiên cứu khác đã có kết quả. Một nghiên cứu tỉ mỉ từ Yale trong năm 1987 do M.R Jensen báo cáo cho thấy bệnh ung thư vú lan tỏa rất nhanh ở những phụ nữ phải chịu đựng những lời chỉ trích cá nhân, cảm thấy thất vọng, và không thể bộc lộ được nỗi sự tức giận, sợ hãi và những cảm xúc tiêu cực khác. Những khám phá tương tự cũng đà thấy rõ ở những người bị viêm khớp dạng thấp, hen, đau bất trị và những rối loạn khác.
Do bị mô hình cũ ngự trị, các bác sĩ vẫn có định kiến đối với những kết quả đó. Như Larry Dossey đã nói trong cuốn sách Y học và Ý nghĩa của ông, “Thông điệp có tầm quan trọng chi phối không ngừng thuyết giảng trên các mục xã luận của các tạp chỉ y học và trên bục giảng ở các trường y là “sinh học vốn gắn liền với bệnh” là môn có tầm quan trọng lấn át, còn những cảm nhận, xúc cảm và quan điểm, đều chỉ là phụ trợ”. Cái mà mô hình mới dạy cho chúng ta rằng những xúc cảm không phải là những sự kiện phù du, bị cô lập trong khu vực tinh thần; chúng là những biểu hiện của ý thức, chất liệu cơ bản của sự sống. Trong tất cả các truyền thuyết tôn giáo thì hơi thở của sự sống là tinh thần. Tinh thần phấn chấn hay u uất được bộc lộ ra ngay qua những sắc thái của cơ thể.
Ý thức phân biệt sự thay đổi to lớn trong quá trình lão hóa, vì trong tất cả các loài có tuổi thọ cao, thì nó sẽ giúp bạn tránh khỏi những điều bất hạnh chỉ con người mới biết những gì đang diễn ra ở họ, và chúng ta chuyển sự hiểu biết này vào quá trình lão hóa. Thất vọng vì thấy mình già đi làm cho bạn chóng già hơn, trong khi thanh thản chấp nhận. Khái niệm thường tình “Bạn chỉ già theo như bạn nghĩ về mình” có biết bao ngụ ý sâu xa. Thế nào là một ý nghĩ? Nó chính xác là một xung lực của năng lượng và thông tin, giống như mọi thứ khác trong Tự nhiên.

Hóa sinh của cơ thể là một sản phẩm của ý thức

Những ý định trước đây của chúng ta đã tạo ra cách lập chương trình lỗi thời mà dường như để kiểm soát chúng ta. Sự thật thì sức mạnh của ý định có thể làm lai tình lại vào bất kì thời điểm nào. Suốt thời gian trước khi bạn trở nên già nua, bạn có thể ngăn ngừa những tổn hại đó bằng cách dùng sức mạnh ý định của mình để lập chương trình có ý thức về tinh thần của bạn để giữ được sức trẻ.
Hóa sinh của cơ thể là một sản phẩm của ý thức.
Một trong những hạn chế lớn nhất của mô hình cũ là đã có giả định cho rằng ý thức của con người không có một vai trò nào trong việc giải thích những gì đang diễn ra trong cơ thể của mình. Song việc chữa khỏi bệnh sẽ không tài nào hiểu được nếu cũng không hiểu được lòng tin, những giả định, ước mong và hình ảnh của chính mình. Mặc dù hình ảnh của cơ thể như một cỗ máy vô hồn tiếp tục ngự trị dòng y học thống trị của phương Tây, song điều ngược lại cũng có bằng chứng chắc chắn. Tỷ lệ tử vong do ung thư và bệnh tim đã thấy rõ là cao hơn ở những người suy sụp về tâm lý, và thấp hơn ở những người có ý thức mạnh mẽ về mục đích và hạnh phúc.
Một trong những nghiên cứu y học trong những năm gần đây được nhiều người biết tới nhất là công trình của nhà tâm thần học David Spiegel ở Stanford. Ông này tìm cách chứng minh rằng trạng thái tinh thần của bệnh nhân không ảnh hưởng gì tới việc họ có vượt qua được ung thư hay không. Cũng như nhiều vị thầy thuốc lâm sàng, ông cảm thấy rằng tầm quan trọng được gắn cho những niềm tin và quan điểm của bệnh nhân thường vẫn hại nhiều hơn lợi, bởi ý nghĩ “Tôi gây ra ung thư cho mình” sẽ dẫn tới những cảm nhận tội lỗi và tự cáo buộc mình. Spiegel chọn ra 86 phụ nữ bị ung thư vú ở giai đoạn nặng (bệnh của họ chủ yếu ngoài khả năng điều trị thông thường) và cho phân nửa những người này được nhận liệu pháp tâm lý mỗi tuần kết hợp với những bài tập tự thôi miên. Bằng bất cứ biện pháp gì thì cách làm này là sự can thiệp tối thiểu – một phụ nữ có thể sẽ làm được gì trong thời gian một tiếng đồng hồ điều trị trong một tuần, thời gian mà người này phải chia sẻ với nhiều bệnh nhân khác, đấu tranh chống lại căn bệnh không thể tránh khỏi tử vong trong những giai đoạn nặng? Câu trả lời dường như đã rõ ràng.

Parkinson

Bệnh liệt rung (Parkinson) đã được tìm thấy hiện tượng suy kiệt chưa giải thích được về một hóa chất quyết định trong não gọi là dopamine; nhưng cũng có một bệnh giống như bệnh liệt rung là do những tế bào não tiết ra dopamine bị phá hủy bởi hóa chất của một số dược phẩm. Bạn hãy hình dung một bệnh nhân bị loại bệnh liệt rung này đã vào giai đoạn nặng cử động bị co cứng. Cố bước đi, nhưng bệnh nhân chỉ đi được một, hai bước, rồi đơ ra như một bức tượng.
Tuy nhiên, nếu bạn vạch một đường trên sàn nhà và nói “Bước qua đi” thì người này, thật kì diệu, có thể bước qua được ngay. Dù thực tế là sự tiết dopamine là hoàn toàn không thể tùy ý và mức dự trữ chất này dường như bị cạn kiệt (như đã thể hiện qua việc não của bệnh nhân này không thể gửi tín hiệu đến cơ chân để đi tiếp một bước nữa), chỉ cần có ý định bước đi là não được đánh thức. Người này có thể lại bị co cứng chỉ sau vài giây, nhưng rồi bạn lại có thể yêu cầu người đó bước qua một vạch kẻ tưởng tượng, và não của người đó lại đáp ứng. Suy ra, tình trạng yếu ớt và kém hoạt động được thấy ở nhiều người già thường chỉ thấy là tình trạng ngủ. Bằng cách hồi phục lại ý định sống tích cực, sống có mục đích, thì nhiều người già có thể cải thiện một cách đáng ngạc nhiên những khả năng vận động, sức mạnh, sự nhanh nhẹn, và những đáp ứng về tinh thần của họ.
Ý định là một kiểu chú ý tích cực; đó là cách để chúng ta chuyển các quá trình vô ý thức thành các quá trình có ý thức. Chỉ cần thực hiện những bài tập tinh thần – thể chất đơn giản, hầu như bất kì bệnh nhân nào cũng có thể tham gia một vài khóa học để chuyển đổi nhịp tim quá nhanh, cách thở khò khè của bệnh hen, hoặc sự lo âu thất thường thành một đáp ứng bình thường hơn. Với kỹ thuật đúng cách thì những gì tưởng như ngoài tầm kiểm soát đều có thể đưa về trạng thái kiểm soát được. Những điều liên quan đến quá trình lão hóa thật là nhiều. Bằng cách đưa một ý định vào quá trình tư duy của bạn như “Tôi muốn được cải thiện về năng lượng và khí lực hằng ngày” thì bạn có thể bắt đầu khẳng định sự kiểm soát các trung tâm này của não, chúng quyết định sẽ được cung cấp bao nhiêu năng lượng trong hoạt động. Sự suy yếu khí lực ở tuổi già chủ yếu là kết quả của những người đang trong tâm trạng chở đợi sự suy yếu đó; họ đã vô tình nuôi dưỡng một ý định đánh bại chính mình với một niềm tin mạnh mẽ, và mối quan hệ tinh thần – thể chất sẽ tự động thực hiện ý định đó.

Giả dược

Không có một đáp ứng duy nhất cho mọi người, hoặc thậm chí cho cùng một người ở hai thời điểm khác nhau. Các tín hiệu đau là những dữ liệu thô có thể được chuyển thành nhiều mục đích. Những môn điền kinh phải ráng sức cao, như chạy cự li dài chẳng hạn, bắt buộc một vận động viên điền kinh phải đau mới thể hiện như dấu hiệu thành tích (không đau là chưa gặt hái được gì) nhưng cũng cái đau đó xảy ra trong hoàn cảnh khác thì chẳng được mong đợi chút nào. Các vận động viên điền kinh khâm phục một huấn luyện viên biết đẩy họ tới những giới hạn có thể, song cùng cách đó trong trại huấn luyện lính thủy mới tuyển thì rất có thể họ lại không được ưa.
Y học vừa mới bắt đầu sử dụng mối quan hệ tinh thần – thể xác để chữa – cắt cơn đau là một ví dụ. Bằng cách cho dùng một giả dược thì 30 phần trăm bệnh nhân thấy cũng giảm đau như dùng thuốc giảm đau thật. Song thì hiệu ứng tinh thần – thể xác có tính chất thiên nhiều hơn về thuyết coi con người là một thể thống nhất. Cũng viên thuốc giả đó có thể dùng để trị đau, làm ngưng tiết quá mức dịch vị ở những bệnh nhân bị loét, để hạ huyết áp hoặc để chống chọi với khối u. (Tất cả những phản ứng phụ trách trong hóa trị, trong đó có việc rụng tóc và buồn nôn, đều có thể giảm bằng cách nào cho bệnh nhân ung thư một viên đường và khẳng định đó là thuốc trị ung thư mạnh, và đã từng có những trường hợp tiêm dung dịch muối vô trùng đã thực sự làm thuyên giảm ung thứ ác tính nặng).
Vì cùng một viên thuốc trơ có thể dẫn tới nhiều phản ứng lại hoàn toàn khác nhau, chúng ta cần phải kết luận là cơ thể có thể tạo ra bất kỳ phản ứng hóa sinh nào một khi ý thức đã được truyền cho ám thị thích hợp. Bản thân viên thuốc là vô nghĩa; sức mạnh tạo ra được hiệu lực của giả dược là sức mạnh riêng của ám thị. Sau đó ám thị này được chuyển thành ý định tự chữa bệnh của cơ thể. Vậy thì tại sao không bỏ qua cách dùng viên đường một cách dối trá để đi thẳng đến ý định đó? Nếu chúng ta có thể tạo ra được ý định một cách hiệu quả mà không làm cho già đi thì chắc cơ thể cũng sẽ tự động thực hiện thôi.
Chúng ta có bằng chứng cực kì thú vị chứng minh được rằng một khả năng như vậy là có thật. Một trong những bệnh khủng khiếp nhất của tuổi già là bệnh liệt rung (Parkinson), một rối loạn thần kinh gây ra những cử động không thể kiểm soát được của cơ và làm chậm lại rõ ràng những cử động của cơ thể như đi lại, để rồi cuối cùng cơ thể cứng đơ tới mức bệnh nhân không thể nhúc nhích được.

Y học tinh thần – thể xác

Cuộc cách mạng mà chúng ta gọi là y học tinh thần – thể xác dựa trên cơ sở khám phá đơn giản này: bất cứ nơi nào tư duy đi tới thì luôn có một hóa chất đi kèm. Nhận thức sâu sắc này đã trở thành một công cụ đắc lực cho phép chúng ta hiểu được, chẳng hạn tại sao các quả phụ gần đây có thể bị ung thư vú tăng gấp đôi, và tại sao con người trầm cảm mạn tính lại có thể bị đau ốm tăng gấp bốn lần. Trong cả hai trường hợp này, những trạng thái tinh thần suy sụp đã chuyển thành các chất hóa sinh gây bệnh.
Trong thực tế ngành y, tôi đã gặp hai bệnh nhân tim bị các cơn đau thắt ngực, cơn đau như nén vào tim và không thở nổi, đau này là điển hình của bệnh tim. Một bệnh nhân có thể chạy, bơi và rất có thể leo núi nữa đang phớt lờ hoàn toàn cơn đau, hoặc thậm chí còn không thấy cơn đau nào xuất hiện cả, trong khi người kia thì gần như ngất xỉu vì đau một khi rời khỏi chiếc ghế bành ông ta vẫn ngồi.
Thiên hướng đầu tiên của tôi là khám xem có khác biệt gì về thể chất giữa họ, nhưng tôi có thể hoặc không thể tìm thấy gì cả. Các chuyên gia về bệnh tim nghĩ rằng các cơn đau thắt ngực xuất hiện khi ít nhất một trong ba động mạch vành bị nghẽn 50 phần trăm. Sự tắc nghẽn này hầu như bao giờ cũng ở dạng một vữa động mạch, một tổn thương bên trong thành động mạch do các tế bào chết, các cục máu đông và các mảng mỡ tạo thành. Tuy nhiên 50 phần trăm tắc nghẽn này chỉ là nhận định theo kinh nghiệm. Một số bệnh nhân đau thắt bị mất khả năng hoặc động do đau khi họ chỉ có một tổn thương nhỏ vừa đủ làm tắc dòng huyết lưu trong động mạch, trong khi có nhiều bệnh nhân khác được biết họ là những người chạy marathon lại bị tắc nghẽn nặng, nhiều chỗ tắc nghẽn lên đến 85 phần trăm. (Tôi xin thêm là, cơn đau thắt ngực không phải bao giờ cũng do tắc nghẽn trong cơ thể gây ra. Các động mạch được lót bằng một lớp tế bào cơ có thể gây co thắt và ép vào các mạch bị thắt lại, nhưng đây là một phản ứng rất cá biệt).
Theo ngôn ngữ tinh thần – thể chất thì hai bệnh nhân của tôi đang diễn đạt những cách hiểu khác nhau về đau. Mỗi bệnh nhân ghi nhớ tình trạng của mình với một triển vọng duy nhất, và cơn đau (hoặc bất kì triệu chứng nào khác) chỉ xuất hiện trong ý thức sau khi nó tương tác với tất cả những ảnh hưởng đã qua đang lúc làm việc trong hệ tinh thần – cơ thể.

Tinh thần và thể xác là một thể không tách rời nhau

Suy thoái theo tuổi tác là không thể tránh được nếu cơ thể đơn giản chỉ là vật chất hữu hình, bởi mọi loại vật chất hữu hình đều là miếng mồi cho entropi, khuynh hướng của các hệ có trật tự trở thành rối loạn. Ví dụ cổ điển về entropi là một chiếc xe hơi đang bị hoen gỉ trong một bãi rác; entropi phá tan máy móc có trật tự thành cục sắt gỉ. Không có một cơ hội nào để quá trình này diễn biến theo cách khác – tức là một đống vụn gỉ đó sẽ tự nó lắp lại thành một chiếc xe mới. Nhưng entropi không thể ứng dụng được trí năng – một bộ phận vô hình của chúng ta miễn dịch đối với những tàn phá của thời gian. Khoa học hiện đại hiện vừa mới khám phá ra mối quan hệ mật thiết của toàn bộ điều này, nhưng từ nhiều thế kỷ nó đã được truyền đạt thông qua những truyền thống tinh thần trong đó các bậc thầy vẫn giữ được nét trẻ trung của cơ thể tránh xa với tuổi già của họ.
Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và phạm vi nhỏ hơn ở phương Tây Cơ đốc giáo đã có được nhiều vị cao minh đã nhận ra rằng bản chất chủ yếu của họ là dòng trí năng. Bằng cách nuôi dưỡng và gìn giữ dòng trí năng này từ năm này qua năm khác, họ đã vượt qua được entropi từ một mức sâu thẳm của Tự nhiên. Ở Ấn Độ, dòng trí năng này được gọi là prana (thường được dịch là “sinh lực”), prana có thể tùy ý cho tăng lên hoặc giảm đi, dịch chuyển chỗ này chỗ kia, không bị trục trặc. Như chúng ta sẽ thấy, mọi người chúng ta đều có khả năng tiếp xúc và sử dụng prana. Một vị sư phụ yoga có thể chuyển vận prana bằng cách sử dụng không khác gì ngoài sự tập trung, bởi ở mức sâu xa, tập trung và prana là như nhau – sự sống là nhận thức, nhận thức là sự sống.
Tinh thần và thể xác là một thể không tách rời nhau.
Trí năng linh hoạt hơn nhiều so với cái mặt nạ vật chất che giấu nó. Trí năng có thể tự biểu lộ tư duy hoặc phân tử. Một cảm xúc cơ bản như sự sợ hãi có thể mô tả như một cảm nhận trừu tượng, hoặc như một phân tử hữu hình của nội tiết tố adrenaline. Không có cảm nhận thì không có nội tiết tố; không có kích tố thì cũng không có cảm nhận. Tương tự như vậy, không có đau nếu không có những tín hiệu thần kinh truyền cái đau đó; sẽ không có sự giảm đau nếu không có những endorphin (chất chống đau) phù hợp với những thụ thể đau để phong tỏa các tín hiệu này.

Sự trao đổi lượng tử

Sự chuyển hóa thì còn hơn quá trình đốt cháy; đó là một hành động trí năng. Chất đường này ở trạng thái còn trơ trong một viên đường hỗ trợ cho sự sống bằng năng lượng của nó, vì các tế bào của cơ thể truyền cho nó thông tin mới. Đường có thể đóng góp năng lượng của nó cho một tế bào thận, tim hoặc tế bào não chẳng hạn. Tất cả các tế bào này đều chứa đựng các dạng trí năng duy nhất – sự co bóp nhịp nhàng của một tế bào tim hoàn toàn khác với sự phỏng diện của một tế bào não hoặc sự trao đổi natri của một tế bào thận.
Kỳ diệu thay sự phong phú của kĩ năng đa dạng này, ở phần cuối có một trí năng duy nhất được phân chia cho toàn bộ cơ thể. Dòng trí năng này giúp bạn sống được, và khi dòng này ngừng chảy, tại thời điểm qua đời, thì mọi tri thức được giữ lại trong ADN của bạn trở thành vô dụng. Khi chúng ta già đi, dòng trí năng này trở nên tổn thương theo nhiều cách khác nhau. Trí năng chuyên biệt của hệ miễn dịch, của hệ thần kinh và hệ nội tiết sẽ bắt đầu thoái hóa, giảm sút; hiện nay, theo hiểu biết của các nhà sinh lý học thì ba hệ này giữ vai trò những hệ kiểm soát chính đối với cơ thể. Các tế bào miễn dịch và các tuyến nội tiết của bạn không còn thích hợp với cùng những thụ thể đối với các tín hiệu não như các tế bào thần kinh của bạn; do đó chúng rất giống như một não bộ nở rộng. Sự lão suy đối với chúng ta không thể coi đơn giản chỉ là một bệnh thuộc phạm vi chất xám của chúng ta; khi trí năng bị mất đi trong hệ miễn dịch hoặc trong hệ nội tiết thì sự lão suy của toàn cơ thể đang len lỏi vào.
Vì tất cả những thứ này đều diễn ra ở mức không thể thấy được, không rõ ràng, nên những tổn thất cũng không nhận ra cho tới khi chúng tiến triển đến một giai đoạn cuối cùng thì mới hiển hiện thành một triệu chứng cụ thể. Năm giác quan không thể cảm nhận đủ sâu để thấy được hàng tỷ những trao đổi lượng tử gây ra sự lão hóa. Tốc độ thay đổi tức thì ở mức quá nhanh và quá chậm: quá nhanh vì những phản ứng hóa học có lẽ diễn ra chưa tới 1/10.000 của một giây, quá chậm vì hiệu quả tích lũy của chúng trong nhiều năm vẫn không biểu hiện. Những phản ứng này bao gồm thông tin và năng lượng trên tỷ lệ hàng triệu lần nhỏ hơn so với một nguyên tử đơn.

Năng lượng và thông tin

Các mã là trừu tượng, và suy cho cùng thì vũ trụ của chúng ta và những gì có trong đó cũng vậy. Tuy nhiên cấu trúc vật chất của cơ thể đến tận nguồn gốc cuối cùng là phân tử, thì sẽ dẫn đến các nguyên tử, rồi từ nguyên tử lại tới các hạt dưới mức nguyên tử, và các hạt này đến những nét thấp thoáng của năng lượng tan biến vào một khoảng trống rỗng. Khoảng trống không này đã bí ẩn có in dấu thông tin trước cả bất kỳ thông tin nào được bộc lộ ra. Chẳng khác gì hàng ngàn từ âm thầm tồn tại trong trí nhớ của bạn mà không được nói ra, trường lượng tử bao trùm toàn bộ vũ trụ dưới một hình thái ẩn. Tình hình đã như vậy kể từ vụ nổ lớn Big Bang, khi đó hàng tỷ thiên hà bị nén chặt trong một không gian hàng triệu lần nhỏ hơn so với không gian tại thời kỳ ý tưởng này hoàn tất. Ngay cả trước cái chấm vô cùng nhỏ này thì cấu trúc của vũ trụ cũng đã tồn tại dưới một hình thái không rõ ràng.
Chất liệu thiết yếu của vũ trụ, trong đó có cơ thể bạn, là phi chất liệu, nhưng không phải thứ phi chất liệu thông thường. Đó là thứ phi chất liệu tư duy. Cái trống không bên trong mỗi nguyên tử đang cùng nhịp đập với cái trí năng vô hình. Các nhà di truyền học định vị cái trí năng này chủ yếu là ở bên trong ADN, nhưng làm như vậy chỉ để nhằm cho được thuận tiện mà thôi. Sự sống mở ra khi ADN truyền một phần trí năng được mã hóa của nó cho người anh em sinh đôi của mình là ARN (acid ribonucleic), và ARN lại đi vào tế bào rồi cũng chia cho những đơn vị dữ liệu trí năng cho hàng ngàn enzym, các enzym này sử dụng đơn vị dữ liệu trí năng đặc thù để tạo ra các protein. Tại mỗi điểm trong chuỗi sự kiện này, năng lượng và thông tin phải được trao đổi, nếu không thì đã không có sự sống được hình thành từ vật chất không có sự sống.
Cơ thể con người đã nhận được nguồn năng lượng chủ yếu của nó bằng việc đốt cháy đường, chất đường đốt cháy này được chuyển tới các tế bào dưới dạng glucoza tức là đường huyết. Cấu trúc hóa học của glucoza có liên hệ mật thiết với đường ăn thường, sucroza, hoặc sacaroza. Nhưng nếu bạn đốt đường ăn thường thì bạn sẽ không có được những cấu trúc phức hợp tuyệt hảo của một tế bào sống. Bạn chỉ có thể có được một nhúm tro than và những dấu vết của nước và dioxide carbon trong không khí.