Các thuốc giảm đau bụng

Được dùng giảm đau trong nhiều trường hợp đau do co thắt cơ, trong đó có đau bụng kinh.
Trong đau bụng kinh, thường dùng thuốc uống, viên 10 mg mỗi lần 1-2 viên, mỗi ngày 2-3 lần. Thuốc có thể gây khô miệng, tim đập nhanh, bí tiểu tiện, dị ứng da nhưng nhẹ, hiếm gặp. Không dùng cho người glaucoma, người rối loạn niệu đạo, người hẹp môn vị.
Alverine: (bd: Spasmaverine, Dipropyllne). Acetylcholin tăng cao gây nên sự tăng co thắt cơ . Alverine hủy acetylcholin, chống lại sự co thắt cơ. Được dùng giảm đau trong nhiều trường hợp đau do co thắt cơ, trong đó có đau bụng kinh. Trong đau bụng kinh, thường dùng thuốc uống, viên 40 mg, mỗi lần 1-2 viên, mỗi ngày 2-3 lần. Không dùng cho người có huyết áp thấp.
Drotaverin: (dẫn chất isoquinolein). Làm giảm đau tương tự như papaverin (một hoạt chất trong thuốc phiện) nhưng mạnh hơn, ít độc hơn.
Được chỉ định trong nhiều trường hợp đau do co thắt cơ (đau quặn do sỏi mật, sỏi thận, đau do co thắt đường niệu sinh dục…), trong đó có đau bụng kinh. Trong dau bụng kinh mỗi lần dùng 1-2 viên (40 mg), mỗi ngày dùng 2- 3 lần.
Các thuốc kháng viêm không steroid.
Làm giảm đau theo cơ chế chung của các kháng viêm không steroid: ức chế việc sản sinh prostaglandin gây đau. Tuy nhiên, trong các kháng viêm không steroid người ta chọn dùng:
Cataflam: Là muối natri diclofenac, một dạng thuốc giảm đau không steroid. Được dùng trong nhiều trường hợp giảm đau trong đó có đau bụng kinh, viêm phần phụ trong phụ khoa. Trong đau bụng kinh, thường dùng thuốc uống, viên 25 mg mỗi lần 2 viên, mỗi ngày dùng 2-3 lần. Nếu dùng liều cao, dài ngày thuốc có thể gây một số tác dụng phụ như gây loét đường tiêu hóa, gây gia tăng men gan, làm giảm chức năng thận. Khi dùng ở liều điều trị có thể thấy buồn nôn, ỉa chảy, đau vùng thượng vị nhưng thường nhẹ, tự mất đi. Tránh dùng chung với các thuốc chống viêm không steroid khác (như aspirin), thuốc chống đông máu (như heparin, ticlopidin). Không được dùng cho người viêm loét dạ dày tá tràng tiến triển, người bị bệnh hen, người suy gan thận nặng, người có mẫn cảm với thuốc.
Mefenamic acid (bd: Ponstan): Được dùng trong nhiều trường hợp giảm đau trong đó có đau bụng kinh. Trong đau bụng kinh, thường dùng thuốc uống, viên 250 mg, mỗi lần 2 viên, mỗi ngày 2-3 lần, không dùng kéo dài quá 7 ngày liền. Với liều điều trị thuốc có thể gây buồn ngủ, chóng mặt, rối loạn tiêu hóa, mẩn ngứa, giảm tiểu cầu, thiếu máu tan huyết nhưng hiếm gặp. Dùng thận trọng khi cơ thể mất nước, bị động kinh, không dùng cùng với thuốc chống đông (như curamin), các thuốc giảm đau không steroid khác (như aspirin).

Triệu chứng hành kinh

Chỉ khi xác định chắc chắn, tìm được nguyên nhân, đánh giá độ tiến triển mới điều trị theo chỉ dẫn, theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa.
Cũng có một số bé gái gặp một số khó khăn liên quan đến tuổi và sự trưởng thành (như ít giao tiếp, trầm cảm hay hiếu động). Cần tạo cho bé cuộc sống hòa đồng với trẻ cùng tuổi, nhằm hạn chế các sang chấn tâm lý.
Phần lớn dậy thì sớm ở bé gái lành tính, có trường hợp còn ngừng tiến triển, có khi không cần điều trị. Chỉ khi xác định chắc chắn, tìm được nguyên nhân, đánh giá độ tiến triển mới điều trị theo chỉ dẫn, theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa. Nếu được khám kỹ càng, chỉ định đúng thì phần lớn cho kết quả tốt.
Kinh nguyệt và thống kinh.
Khi hành kinh có triệu chứng đau quặn, thắt ở vùng bụng dưới, đôi khi còn kèm thêm đau lưng, nhức đầu, tiêu chảy gọi là thống kinh (đau bụng kinh). Nhiều thống kê ở các nước cho biết: có khoảng 60% -70% bé gái trong 3 năm đầu có kinh thường bị thống kinh. Không có gì nguy hiểm nhưng thường làm cho 15%-20% bé gái phải nghỉ học, nghỉ làm việc. Điều quan trọng, thống kinh còn gây tâm trạng lo lắng, thiếu tự tin.
Trong chu kỳ kinh nguyệt, niêm mạc tử cung tiết ra nhiều prostaglandin, từ giai đoạn tầng sinh đầu đến giai đoạn chế tiết cuối của vòng kinh, tăng cao hơn nữa trong những ngày hành kinh, đặc biệt trong 48 giờ đầu. Prostaglandin tác dụng lên cổ tử cung gây co thắt mạnh (trong giai đoạn phóng noãn) đồng thời gây đau. Trường hợp này gọi là thống kinh nguyên phát. Những bé gái bị thống kinh nguyên phát sau khi sinh con hay uống thuốc tránh thai thường giảm đi rõ rệt.
Có khi do thiếu vi chất hoặc do các bệnh lý khác cũng dẫn tới thống kinh. Trường hợp này gọi là thống kinh thứ phát. Có thể dùng một số thuốc thông thường sau đây để giảm thống kinh (giảm đau):
Các thuốc chữa hormon nữ.
Hormon nữ progesteron, estrogen có vai trò làm cho sự phát triển niêm mạc tử cung kém đi, ức chế sự tổng hợp prostaglandin, làm giảm đau. Thuận tiện nhất là dùng viên thuốc tránh thai trong thành phần có phối hợp hai chất này như Marvilon, Rigevidon. Do cơ chế tác dụng của thuốc như trên, nên muốn có hiệu quả tốt cần uống trước khi hành kinh vài ba ngày, nếu quên thì uống ngay khi có giọt kinh đầu tiên.
Thuốc có tác dụng hướng cơ.
Cơn đau khi có kinh là do tăng co thắt. Thuốc có tác dụng hướng cơ có tính đặc hiệu là làm giảm co thắt cơ, ít có tác dụng phụ.
Hyoscinum: (bd: buscopan). Hyoscinum làm liệt giao cảm. Do làm liệt giao cảm mà làm giảm co thắt cơ, giảm đau. Được dùng trong các trường hợp đau do co thắt, trong đó có trường hợp đau bụng kinh.

Bé gái thường dậy thì sớm

Thêm nữa, dậy thì sớm có trường hợp tiến triển nhưng có trường hợp ngưng lại, thậm chí quay trở về trạng thái ban đầu và quá trình dậy thì sẽ tiếp tục về sau.
Đa số dậy thì sớm ở bé gái thường lành tính trong khi hơn 50% dậy thì sớm ở bé trai có liên quan đến bệnh lý. Có khi gặp một số biểu hiện của dậy thì trước tuổi cũng chưa hẳn là đã bị dậy thì sớm. Thêm nữa, dậy thì sớm có trường hợp tiến triển nhưng có trường hợp ngưng lại, thậm chí quay trở về trạng thái ban đầu và quá trình dậy thì sẽ tiếp tục về sau (dậy thì chậm). Vì lẽ đó, trước một bé gái có biểu hiện dậy thì trước tuổi thì phải khám, xác định chắc chắn, tìm nguyên nhân, đánh giá sự tiến triển mới quyết định điều trị.
Những liệu pháp thường dùng và hiệu quả.
Dùng thuốc:
Progesteron: Thuốc ít cải thiện hormon, chiều cao nhưng có ích là hạn chế kinh nguyệt sớm. Thường dùng các progestin tổng hợp: međroxyprog- esteron acetat, cyproteron acetat. Triptorelin, leucoprorelin: Thuốc lúc đầu kích thích tiết gonadotropin về sau sẽ điều hòa và giảm các tác động của gonadotropin, do thế ức giảm tốc độ tiến triển dậy thì sớm trong năm điều trị đầu tiên. Thuốc có hiệu quả trong việc cải thiện chiều cao, càng tốt hơn khi dùng phối hợp với hormon tăng trưởng. Thuốc không gây ảnh hưởng xấu đến tử cung sau này. Hormon tuyến giáp: Trường hợp dậy thì sớm do suy tuyến giáp thì bổ sung hormon tuyến giáp. Khi bị dậy thì sớm do suy tuyến giáp có biểu hiện chảy sữa, tăng prolactin máu. Sau khi bổ sung hor- mon tuyến giáp, các biểu hiện này mất đi.
Chỉ dùng loại hormon tự nhiên tổng hợp khi có chỉ định, theo dõi của thầy thuốc.
Điều trị ngoại khoa:
Như trên đã nói dậy thì sớm có khi do các khối u (ở vùng hạ đồi, tuyến yên, não, tuyến tùng…). Nếu khối u nhỏ không xâm lấn các vùng chung quanh hoặc các vùng tối quan trọng của não thì có thể phẫu thuật. Trường hợp không phẫu thuật được thì xạ trị, tuy xạ trị cho hiệu quả kém. Nếu xác định rõ dậy thì sớm do u buồng trứng hay thượng thận thì phải phẫu thuật cắt bỏ, hiệu quả thường tốt.
Liệu pháp tâm lý:
Những bé gái dậy thì sớm có sự trưởng thành về trí tuệ, hành vi tâm lý như những trẻ cùng lứa tuổi thực của chúng, không có các hoạt động tình dục khác giới sớm hay hoạt động tình dục bất thường. Không nên quá lo lắng, có các thái độ đề phòng quá đáng, gây cho bé tâm lý bất lợi.
Ngoại trừ một số bé có vóc người thấp ở tuổi trưởng thành, nhìn chung các bé dậy thì sớm cũng phát triển bình thường như các trẻ khác, nhiều bé còn có chỉ số IQ cao.

Tuổi dậy thì

Dậy thì sớm trung tâm là do hoạt hóa sớm hoạt động theo dạng xung của trục hướng sinh dục (gonadotropic axis) làm tăng tiết hormon LH.
Hiện tuổi dậy thì bình thường đến sớm hơn so với trước, có nước đề nghị xem xét dậy thì sớm ở tuổi nhỏ hơn (Mỹ đề nghị dưới 7 tuổi với bé gái).
Có nhiều dạng dậy thì sớm: Dậy thì sớm trung tâm là do hoạt hóa sớm hoạt động theo dạng xung của trục hướng sinh dục (gonadotropic axis) làm tăng tiết hormon LH (luteinizing hormon) và FSH (foliculin- stimulat- ing hormon). Dậy thì sớm trung tâm có thể do tổn thương vùng dưới đồi như khối u, dị dạng, tia xạ nhưng nếu khi chụp cộng hưởng từ (MRI) không tìm thấy bằng chứng thì coi là dậy thì sớm vô căn (không rõ căn nguyên). Dậy thì sớm sinh dục là do tuyến sinh dục hoặc tuyến thượng thận tự tiết ra các hormon sinh dục cấu trúc steroid, hoặc do tiếp xúc với môi trường, dùng thuốc có chứa các hormon này hoặc do các khối u sản xuất ra các hormon hay chất có tác dụng như hormon.
Dậy thì sớm ở bé gái gấp 5 lần ở bé trai; 75% trường hợp dật thì sớm ở bé gái là dật thì sớm vô căn hoặc dậy thì sớm trung tâm; phần còn lại là dậy thì sớm có liên quan đến khối u buồng trứng, bệnh lý tuyến thượng thận.
Người mẹ có thể nhận thấy một số biểu hiện dậy thì trước tuổi ở bé gái như tốc độ tăng chiều cao nhanh, biểu mô âm đạo phát triển nhanh, mô vú có thể phát triển sớm (biểu thị sự hoạt động mạnh của estrogen), âm vật to (biểu hiện của hoạt động mạnh của androgen). Tuy nhiên, không nên đánh giá bằng cảm tính mà cần đưa bé đến các đơn vị y tế có điều kiện làm các xét nghiệm cao nhằm xác định xem cháu có chắc chắn là bị dậy thì sớm hay không, nếu có thì do nguyên nhân nào?
Một trong những xét nghiệm được coi là tiêu chuẩn vàng là hoạt hóa trục hướng sinh dục, gây tiết gonadotropin chủ yếu là LH. Tuy nhiên, đây là một xét nghiệm khó, mất nhiều thời gian, chi phí cao, không phù hợp với số đông. Do đó, nhiều thầy thuốc chỉ dựa vào tỷ số LH/FSH để chuẩn đoán dậy thì sớm trung tâm. Mặt khác, như ta biết, đa số dậy thì sớm ở bé gái có thể là dậy thì vô căn hay dậy thì trung tâm có liên quan đến các khối u nên cần chụp cộng hưởng từ (MRI) ở đầu. Trong một số trường hợp đặc biệt, dậy thì sớm có thể liên quan đến suy tuyến giáp hay có biểu hiện nam hóa do khối u buồng trứng hay khối u vỏ thượng thận thì cần làm thêm các xét nghiệm nội tiết, siêu âm khác.

Tái tạo nhũ hoa

Một số nước trong khu vực bắt đầu sắm sửa các phương tiện xác định phân tử đích HER2, phân loại và chuẩn bị tiếp nhận người bệnh có HER2 thái quá.
Herceptin được EDA (Mỹ) cho lưu hành từ 1998 và được châu u cho dùng từ tháng 9/2000. Từ 1998 đến nay có 230.000 người điều trị. Một số nước trong khu vực bắt đầu sắm sửa các phương tiện xác định phân tử đích HER2, phân loại và chuẩn bị tiếp nhận người bệnh có HER2 thái quá. Tháng 6/2007, nước ta đã tổ chức hội thảo vấn đề này.
Những thuốc trong liệu pháp nhằm trúng đích phân tử cũng đã có ở nước ta.
Việc dùng herceptin bước có tính đột phá chẳng những trong ung thư vú mà còn có thể cho các ung thư khác.
Tái tạo lại dáng hoa niềm vui lớn của người bệnh.
Nhũ hoa có vai trò quan trọng về thẩm mỹ, nuôi con, hoạt động tình dục. Mất đi nhũ hoa có nghĩa là mất đi một hay các chức năng đó, sẽ là nỗi lo thực sự của nữ giới vì thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình điều trị các bệnh lành tính cũng như ung thư vú.
Có người có các biểu hiện lành tính nhưng quá lo lắng đến với thầy thuốc không chuyên khoa giải quyết không đúng dẫn đến bị mất một bên vú, ví dụ như cắt mất mầm vú (xem thêm mục 3 chương VII). Có người sau khi cắt vú không được chồng mặn mà như trước. Lại có người bị ung thư vú đến thời kỳ phải cắt bỏ nhưng ngại việc cắt vú sẽ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, hạnh phúc nên cố gắng chữa bằng các bài thuốc thảo dược, mong muốn bảo toàn, nhưng không có hiệu quả. Cách chữa luẩn quẩn như thế làm cho bệnh diễn tiến nặng thêm.
Kỹ thuật tạo lại dáng nhũ hoa không chỉ làm đẹp mà giúp người bệnh tự tin hơn khi chấp nhận điều trị ung thư vú. Cố nhiên làm được điều này phải là các thầy thuốc giỏi, ở tuyến cao.
Nếu tầm soát phát hiện được sớm ung thư vú, thì có thể điều trị bảo tồn bằng cách phối hợp nhiều liệu pháp (phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết, nhằm trúng đích phân tử) nên không cần phải cắt bỏ vú như trước. Dù đã có phương pháp tạo lại dáng hoa nhưng phát hiện sớm ung thư vú, điều trị bảo tồn vẫn là cách hay nhất.
Khi đã bắt buộc phải cắt bỏ vú thì có nhiều cách tạo lại dáng.
Phương pháp đặt túi độn: Sau khi cắt bỏ vì đã bị mất phần da nên phải dùng dụng cụ căng da đặt dưới da vùng nhũ hoa, bơm dần lên rồi dùng một túi độn (giống như giải phẫu nâng ngực). Kế đó làm quầng vú và núm vú bằng chính da của cơ thể (lấy từ nơi da có màu sẫm như vùng bẹn bên trong đùi).

Nhóm làm giảm sản xuất estrogen

Các chất tổng hợp tương tự như LH, RH (còn gọi là chất giả dạng) gắn liền vào các thụ thể của LH, RH ở màng tế bào tuyến yên.
Các chất tương tự LH, RH: LH, RH kích thích tuyến yên tiết ra loại honnon có tác động lên buồng trứng, thúc đẩy việc sản xuất estrogen. Các chất tổng hợp tương tự như LH, RH (còn gọi là chất giả dạng) gắn liền vào các thụ thể của LH, RH ở màng tế bào tuyến yên, chiếm chỗ và không cho LH, RH “thật” hoạt động. Kết quả là làm cho việc sản xuất estrogen bị sụt giảm. Thuộc nhóm này hiện có thuốc Goserelin.
Goserelin (bđ: zoladex) là một decapeptid tổng hợp tương tự như LH, RH có tác dụng hạn chế sự phát triển ung thư vú (và cả ung thư tuyến tiền liệt, ung thư nội mạc tử cung). Do làm giảm sản xuất estrogen nên thuốc gây ra các tác dụng phụ giống như giảm estrogen khi mãn kinh (đỏ bừng mặt, vã mồ hôi, khô âm đạo, giảm kích thước tuyến vú, thay đổi tính tình, giảm dục tính và có thể gây loãng xương). Tuy nhiên những tác dụng bất lợi này thấp hơn tamoxifen .
Các chất kháng enzym aromataz: Aromataz có nhiêm vụ chuyển đổi androgen thành estrogen. Các chất ức chế hoạt động của aromataz sẽ ngăn cản việc sản xuất, dẫn tới làm giảm nồng độ estrogen. Thuộc nhóm này có các thuốc được tìm ra, áp dụng trong lâm sàng từ những năm 80 như aminoglutethimid và một thế hệ mới có hiệu lực cao hơn được đưa vào dùng trong những năm gần đây như anastrozol, letrozol.
Aminoglutethimid: Thuốc có hiệu quả ngăn sự tiến triển của tế bào ung thư vú nhưng tính chọn lọc thấp, có nhiều tác dụng phụ. Anastrozol và letrozol: Thuộc loại triazol không có nhân steroid. Mới đưa vào dùng nhiều từ năm 2002 (sau hội nghị Ung thư vú châu u và Hội nghị Ung thư vú Mỹ), có hiệu quả tốt, ít gây ra ung thư nội mạc tử cung, ít gây xuất tiết âm đạo, ít có nguy cơ gây cục máu đông như khi dùng tamoxifen. So với tamoxifen chúng có tính dung nạp, tính chọn lọc cao, hiệu quả cao hơn ngay cả trong các trường hợp có di căn xa. Hiện được dùng rộng rãi, thay thế cho tamoxifen.
Anastrozol, letrozol được dùng cho ung thư vú lệ thuộc vào ER(+) tiến triển ở người hậu mãn kinh đã từng dùng các kháng estrogen (như ta moxifen) không có hiệu quả. Với trường hợp này, nếu dùng mỗi ngày 1mg anastrozol sẽ làm giảm trên 80% nồng độ estradiol.
Hai thuốc này làm giảm estrogen nên có gây ra một ít triệu chứng gống như giảm estrogen trong thời kỳ mãn kinh (đỏ bừng mặt, khô âm đạo). Không dùng thuốc trong thời kỳ tiền mãn kinh, người mang thai, người cho con bú, tránh vận hành máy móc (vì thuốc có thể gây trạng thái lơ mơ, mệt mỏi).

Một số loại thuốc chống ung thư vú

Thuốc mới đưa vào dùng nhiều từ năm 2002 (sau hội nghị Ung thư vú châu Âu và hội nghị ung thư vú Mỹ).
Nếu đang độ hoạt động sinh dục sung mãn thì phải định lượng prog-esteron; phải thử chắc chắn là không có thai, phải dùng các biện pháp ngừa thai hữu hiệu khi dùng. Không dùng Tamoxifen cho người có thai nuôi con bú.
Aromatase letrozol:Thuốc mới đưa vào dùng nhiều từ năm 2002 (sau hội nghị Ung thư vú châu Âu và hội nghị ung thư vú Mỹ) ít gây ra ung thư màng trong tử cung, ít xuất tiết âm đạo, ít có nguy cơ gây cục máu đông như khi dùng tamoxifen (xem thêm chương VII, mục 14 ở dưới).
Việc dùng thuốc kết hợp với mổ và xạ trị đem lại nhiều hy vọng sống nâng cao chất lượng sống cho người ung thư vú. Người bệnh phải có hiểu biết, có niềm tin, lòng kiên nhẫn, theo đúng liệu trình.
Liệu pháp nội tiết: niềm hy vọng cho người ung thư vú.
Hormon estrogen là có vai trò quan trọng trong việc phát triển, duy trì, điều hòa các chức năng sinh dục nữ (tử cung, buồng trứng, vú, tuyến sữa, chu kỳ kinh nguyệt…). Nhưng trong một số trường hợp, estrogen vào tế bào vú, gắn vào các thụ thể estrogen. Các thụ thể này nhận biết, chuyển tín hiệu tăng trưởng DNA của tế bào đến các vùng khác, làm cho ung thư vú phát triển. Trường hợp này gọi là ung thư vú lệ thuộc vào thụ thể estrogen (ER+). Nếu dùng một thuốc làm giảm nồng độ estrogen hoặc kháng estrogen (khóa estrogen) không cho tác động lên thụ thể thì hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Nhóm kháng estrogen:
Nhóm này có tamoxifen được đưa vào dùng từ năm 1973, sau đó là fulvestra và mới đây nhất là raloxifen.
Tamoxifen: Có hiệu quả với carcinom ống tại chỗ, nếu dùng sớm sẽ làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái phát, tử vong; làm giảm nguy cơ phát sinh ung thư mới ở vú đối diện. Ngay cả trường hợp ung thư vú đã có di căn, tamoxifen cũng có tác dụng nâng đỡ tích cực ở tất cả các giai đoạn. Với riêng người mãn kinh, tamoxifen là chất đồng vận với estrogen trong việc tạo xương, giúp chống loãng xương. Do đối kháng với estrogen, nên ta moxifen có thể gây nên các triệu chứng giống một số triệu chứng khi suy giảm estrogen trong thời kỳ mãn kinh (xem thêm mục 11, chương VII).
Raloxifen: Tác dụng tương tự như tamoxifen trên ung thư vú. Một ưu điểm được nhận thấy là raloxifen ít gây ung thư nội mạc tử cung, gây huyết khối như tamoxifen (trong khi cùng dùng chống loãng xương). Trong ung thư vú cũng như trong chống loãng xương, raloxifen có lợi, ít hại hơn tamoxifen.
Fulvestrant: Lấy đi các thụ thể estrogen (ER+) của tế bào ung thư, do đó mà cắt đứt được môi trường mà estrogen gây tác động tiêu cực.

Không dùng kết hợp thuốc

Một số tác dụng phụ khác hay gặp: chán ăn, buồn nôn, rụng tóc, giảm tiểu cầu, thiếu máu, viêm bàng quang.
Không được dùng cùng lúc với các thuốc ức chế miễn dịch chống thải loại như cyclosporin (vì có thể làm suy giảm miễn dịch quá mức). Một số tác dụng phụ khác hay gặp: chán ăn, buồn nôn, rụng tóc, giảm tiểu cầu, thiếu máu, viêm bàng quang (có hay không chảy máu), viêm kết tràng, giảm chức năng sinh dục, xơ nang buồng trứng, thay đổi sắc tố, viêm da, vàng da và có thể suy tim sung huyết.
Fluouracil: Được dùng phụ trị trong ung thư vú. Không được dùng cho người bị bệnh suy tủy, giảm bạch cầu, tiểu cầu, phụ nữ có thai. Tác dụng phụ chính là gây viêm miệng, hầu, thực quản, nôn, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy. Ngoài ra còn gây rụng tóc viêm da, nhạy cảm với ánh sáng (thuốc tiêm), ban đỏ da.
Doxorubixin và epirubicin: Đều thuộc nhóm anthracin. Được dùng phụ trị trong ung thư vú. Không được dùng cho người bị bệnh suy tim, người có thai, cho con bú. Tác dụng phụ: gây viêm miệng, làm giảm sản xuất tủy, giảm đáp ứng miễn dịch (hết nhanh) sốt, buồn nôn đau bụng, tiêu chảy, gây một vài thay đổi diện tâm đồ, rối loạn điện giải.
Những tác dụng phụ của các thuốc trên thường làm cho người bệnh lo lắng, trở ngại cho điều trị. Thầy thuốc thường thay đổi liều, cho dùng ngắt quảng nhằm hạn chế điều bất lợi này. Người bệnh cần tuân thủ và yên tâm, không nên quá lo lắng mà bỏ dở.
Tamoxifen: Trong một điều kiện nhất định estrogen kích hoạt sự phát triển ung thư vú. Tamoxifen tranh chấp với hormon estrogen (tại thụ thể của nó) do đó chống lại sự phát triển khối u. Trong trường hợp ung thư vú có sự lệ thuộc vào hormon estrogen, thì dùng Tamoxifen đặc biệt có hiệu quả.
Tamoxifen do đối kháng với estrogen, nên có thể gây nên các triệu chứng giống một số triệu chứng khi suy giảm estrogen trong thời kỳ mãn kinh; bốc hỏa, băng huyết nhẹ, tăng calci huyết (phải ngưng thuốc nếu tăng quá cao), gây huyết khối nghẽn mạch (biểu hiện: chân sưng, thở khó không giải thích được), rối loạn thị giác (khi dùng liều cao). Với riêng người đang độ tuổi sinh đẻ: Tamoxifen có thể gây tắc kinh, vô kinh, u nang buồng trứng, gia tăng nguy cơ xuất hiện ung thư màng trong tử cung (biểu hiện: đau tức vùng chậu, chảy máu bất thường ở âm đạo), có thể gây vô sinh. Trong chương trình sinh đẻ có kế hoạch, nữ thường sinh hai con, vào độ tuổi dưới 30, trong khi ung thư vú lại thường ở vào tuổi từ 40 nên điều bất lợi này ít khi xảy ra. Trước khi dùng phải định lượng progestreron , estro-gen.

Các thuốc ức chế ung thư

Chống lại sự tăng sinh tế bào, nên chống lại sự phát triển khối u đồng thời lại có tác dụng không tốt đến một số hoạt động của tế bào lành.
Các thuốc này đều ức chế việc tổng hợp AND, chống lại sự tăng sinh tế bào, nên chống lại sự phát triển khối u đồng thời lại có tác dụng không tốt đến một số hoạt động của tế bào lành, gây độc ở các mức độ khác nhau:
Cyclophosphamid: Được dùng trong phụ trị và trong di căn ung thư vú. Không được dùng khi suy giảm tủy xương trầm trọng, khi bị nhiễm khuẩn đường niệu cấp, viêm bàng quang chảy máu, khi thai nghén, nuôi con bú. Thận trọng trong trường hợp suy gan thận (dùng giảm liều) trong trường hợp đái tháo nhạt thay đổi liều, thì sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong được 38% (với người dưới 50 tuổi) và 20% (với người từ 50 đến 69 tuổi). Kế đó, nếu có tiếp tục dùng hỗ trợ tamoxifen (kéo dài 5 năm) thì tỷ lệ tử vong còn giảm thêm được 31% nữa. Cộng dồn lại sau 15 năm, kể từ ngày phát hiện, nếu dùng cả da hóa trị liệu và tamoxifen thì tỷ lệ tử vong sẽ giảm được 57% (với người dưới 50 tuổi) và 45% (với người từ 50 đến 69 tuổi). Khi tamoxifen không còn hiệu lực (do quen thuốc) thì có thể dùng hormon ức chế aromatase letrozole. Thuốc này cải thiện được kết cục sau khi ngưng dùng tamoxifen (giảm tỷ lệ tái phát, giảm tỷ lệ xuất hiện ung thư vú đối diện, giảm tỷ lệ tử vong).
Có khoảng 20% người bệnh đến rất muộn, ung thư vú đã chuyển sang giai đoạn 3, thậm chí giai đoạn 4. Ở giai đoạn rất “bi đát” này, buộc phải dùng hóa trị liệu trước cho ổn định mới mổ. Bệnh sẽ không tái phát nhanh và nguy hiểm như khi mổ ngay.
Ngoài những thuốc căn bản nói trên, từ thập niên 90 trở lại đây, có thêm một số thuốc mới như taxotere, hiệu quả rất khả quan kể cả khi ung thư vũ đã di căn. Những thuốc mới giá rất cao (mỗi tháng mất 10 triệu đồng), chưa thể dùng nhiều ở nước ta.
Những điều phải cẩn trọng.
Trong thời gian dài dùng thuốc người ta chia ra chu kỳ dùng. Trước khi dùng, cần kiểm tra bệnh nhiễm khuẩn, điều chỉnh các rối loạn điện giải (nếu có). Cần phải ngừa thai có hiệu quả, kiêng sinh hoạt tình dục trong khi và 3 tháng sau khi ngừng dùng thuốc. Uống nhiều nước (nếu cần kết hợp dùng uromixetan) để tránh nguy cơ viêm, chảy máu bàng quang.
Không nên dùng cùng lúc với phenobacbital, chloramphenicol, allopurinol, các thuốc hạ tiểu đường tuýp II (vì cyclophosphamid làm tăng hiệu lực, gây ngộ độc giống như dùng quá liều các thuốc này). Không được dùng cùng lúc với các thuốc làm suy giảm tủy xương, các thuốc chống đông máu (vì các thuốc này làm tăng cường hiệu lực gây ngộ độc giống như dùng quá liều cyclophosphamid).

Lưu ý khi làm nhũ ảnh

Nên đi chụp trong khoảng nửa đầu của chu kỳ hành kinh, vì lúc này tuyến vú ít bị căng đau.
Khi chụp phải cởi bỏ áo, kỹ thuật viên dùng hai miếng plastic ép vú lại, có thể gây khó chịu (vì vú bị ép chặt) nhưng điều này có thể gắn được vì chỉ trong vài giây là chụp xong. Nên đi chụp trong khoảng nửa đầu của chu kỳ hành kinh, vì lúc này tuyến vú ít bị căng đau. Cần chụp ở tư thế thẳng và nghiêng cho mỗi bên vú (như vậy phải 4 lần ép vú). Kết quả sẽ có ngay sau 30 phút. Nếu có bất thường, thầy thuốc có thể cho làm thêm siêu âm hoặc làm xét nghiệm PNA. Nếu nghĩ là u ác tính thầy thuốc sẽ cho “sinh thiết” tức là mổ lấy cục bướu đem thử. Cũng chỉ sau 30 phút là có kết quả. Nên làm nhũ ảnh khi phát hiện thấy những bất thường tự nhiên ở nhũ hoa (u đau, tiết dịch bất thường). Với người trên 40 tuổi vì tần suất ung thư vú thường xảy ra hơn nến nếu có điều kiện cứ định kỳ làm nhũ ảnh mỗi 2 năm. Những người mà gia đình có người ung thư vú (mẹ, chị em), không có con hay có con sau 35 tuổi, không cho con bú, bản thân từng bị ung thư vú một bên là thuộc nhóm nguy cơ cao nên khám vú hàng năm, nếu có điều kiện nên làm nhũ ảnh.
Điều quan trọng nhất của người bệnh là phải bình tĩnh làm đủ các xét nghiệm cần thiết, không quá hoang mang, chấp nhận thực hiện đúng các biện pháp chữa trị khoa học, tránh nôn nóng, dại dột đi tìm các cách chữa bí truyền hoặc mê tín. Hiện chưa có một phép chữa trị bí truyền hay thảo dược nào có bằng chứng là chữa được ung thư vú.
Lợi ích hóa trị liệu trong ung thư vú.
Sau phẫu thuật cần hóa trị liệu. Phải dùng đúng cách nhằm hạn chế tác hại.
Nếu sau mổ và xạ trị có kết hợp đa hóa trị liệu theo công thức FAC hay FEC trong sáu tháng từng đợt dùng ngắt quãng gọi là chu kỳ. Liều lượng, chu kỳ dùng thuốc thay đổi theo tình trạng bệnh, tình trạng sức khỏe, tiền sử bệnh tật từng người. Riêng liều lượng dùng trong công thức đa hóa trị liệu thường thấp hơn liều lượng khi dùng riêng từng thứ. Vì thế, thầy thuốc chuyên khoa ung bướu thường chỉ dẫn cho từng trường hợp. Người bệnh không tự ý tra cứu tài liệu, nghe mách bảo hoặc dựa vào cảm giác chủ quan mà thay đổi liều lượng, chu kỳ dùng.
Những thuốc thành phần trong công thức đa hóa trị liệu FAO, FEC:
Công thức thuốc đa hóa trị liệu FAO gồm: Fluorouracil, Doxorubicin, Cyclophosphamid.
Công thức FEC gồm: Fluorouracil, Epirubicin, Cyclophosphamid.