Khi bố cao thì con cũng cao

Bố mẹ không cao lắm nhưng đẻ ra con cao, hay bố mẹ cao nhưng đẻ ra con thấp.
Tất nhiên sự di truyền này qua nhiều đời và cũng có trường hợp đột biến, bố mẹ không cao lắm nhưng đẻ ra con cao, hay bố mẹ cao nhưng đẻ ra con thấp, chênh lệch với chiều cao trung bình H nói trên.
Vai trò của dinh dưỡng trong phát triển chiều cao.
Cuộc sống ngày càng sung túc, đặc biệt ăn nhiều chất bổ dưỡng cần thiết cho chiều cao và cân nặng (mà trước đây bố mẹ, ông bà không có đủ) nên chiều cao có khuynh hướng tăng lên thậm chí tăng lên trong toàn xã hội. Chẳng hạn từ năm 1945 trở về trước, người Nhật lùn nhưng ngày nay người Nhật không lùn một chút nào so với người u Mỹ và còn cao hơn nhiều so với người ở một số nước khác.
Cần ăn đủ chất bổ dưỡng đặc biệt những chất cần cho sự phát triển chiều cao:
Chất bổ dưỡng chung: Không ăn đủ chất bổ dưỡng chung mà chỉ ăn những chất cần cho sự phát triển chiều cao thì cũng không thể cao lên được. Khung xương cấu tạo bằng protein đặc biệt, nếu không đủ protein thì không tạo được khung xương. Cho dù có ăn nhiều canlci, phospho thì phosphatcaxi cũng không có khung xương đầy đủ để bám vào. Trẻ suy dinh dưỡng thường mang thêm bệnh còi xương là vì lý do này. Hơn nữa nếu không ăn đủ đạm mà chỉ ăn thức ăn thực vật thì cho dù có sắt một tác nhân rất quan trọng giúp phát triển chiều cao cũng rất khó được hấp thu (cơ thể chỉ hấp thu 5% sắt trong thực vật trong khi hấp thu được 10-15% trong động vật). Vitamin D cần cho sự phát triển chuyển hóa calci phospho kiến tạo xương, nhưng nếu ăn thiếu chất béo thì không thể hấp thu được vitamin D.
Ăn đủ một số chất rất cần thiết cho sự phát triển chiều cao cân nặng.
Calcium và kẽm : (xem thêm mục 5-7. Chương V).
Sắt và vitamin A: Theo Clincal Endocrinology sắt giúp trị liệu cho trẻ có thể trạng chậm phát triển và dậy thì muộn. Khi bị chứng này thường trì hoãn sự phát triển và dậy thì của con trai. Cụ thể: chậm phát triển ở tuổi lên 3 tiếp theo tăng trưởng bình thường đến 12 tuổi. Nhưng tinh hoàn bé trai không lớn lên tương ứng với tuổi này, sự tăng trưởng của bộ xương chậm, khi đến tuổi trưởng thành dễ bị gãy xương hơn người khác, chỉ đạt được chiều cao khiêm nhường. Khi so sánh nhớm dùng sắt và vitamin A với các nhóm dùng thuốc khác trên cùng đối tượng như nhau thấy:
Nhóm trị liệu bằng sắt và vitamin A có kết quả cao hơn nhóm không được điều trị đạt được kết quả như nhóm điều trị bằng hormon steroid oxandrolone

Nghiên cứu về tỉ lệ thiếu kẽm

Việc thiếu kẽm có hại nhưng việc thừa kẽm cũng không có lợi. Khi có các biểu hiện thiếu kẽm, nên làm xét nghiệm.
Theo một nghiên cứu tại viện dinh dưỡng quốc gia nước ta, khoảng 25-40% trẻ em và hầu hết nữ ở tuổi sinh đẻ thiếu kẽm. Việc thiếu kẽm có hại nhưng việc thừa kẽm cũng không có lợi. Khi có các biểu hiện thiếu kẽm, nên làm xét nghiệm. Mức kẽm bình thường trong máu là 100 mcg/lOOml. được coi là thiếu khi dưới 70 mcg/100 ml. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất là móng tay có bớt trắng, quáng gà, da bị sừng hóa, khô ráp, rụng tóc, tiêu chảy, bị bệnh nhiễm khuẩn tái đi tái lại, mụn vết thương, bị mụn, vết nhọt lâu lành, biếng ăn, giảm cân, suy nhược cơ thể, không minh mẫn, với nam dễ bị u xơ tiền liệt tuyến, với nữ khi có thai có nhiều tai biến. Bệnh Acrodmatitis Enteropacthica (do di truyền cơ thể không hấp thu kẽm), da bị nám xung quanh khuỷu tay, đầu gối mặt, chậm lớn.
Khi vì một lý do nào đó dẫn đến thiếu kẽm, nên dùng các thực phẩm chức năng có bổ sung kẽm (như sữa sữa tươi Nuvi) hay vitamin phối hợp với các muối khoáng có chất kẽm (trong các biệt dược này mỗi viên thường chứa 10-15 mg kẽm bằng với nhu cầu kẽm mỗi ngày của trẻ từ 13 tuổi trở lên và người trưởng thành). Cũng có thể dùng muối kẽm glu-conat hay natrizincat.
Một số đối tượng sau đây cần bổ sung kẽm: Trẻ em nếu biếng ăn chậm lớn. Người có thai cho con bú. Đàn ông từ 40 tuổi trở lên, đặc biệt là người bị u xơ tuyến tiền liệt, yếu sinh lí rối loạn cương dương, người già.
Khi dùng kẽm nên dùng thêm vitamin A, B6, C, phospho. Những chất này làm tãng sự hấp thu, tăng hoạt tính của kẽm. Nếu dùng cả sắt vã kẽm thì nên dùng cách xa nhau vì sắt làm chậm sự hấp thu kẽm. Khi dùng làm tăng miễn dịch chống nhiễm khuẩn thì không được dùng quá 150 mg/ngày (nếu nhiều quá kẽm sẽ lại ức chế miễn dịch).
Kẽm cần cho mọi người, nam cần hơn nữ, đặc biệt cần cho người có thai, cho con bú để cung cấp cho thai nhi và trẻ nhỏ, cũng như đặc biệt cần khi trẻ trưởng thảnh. Bởi vậy, thuốc có chứa kẽm được quảng cáo là làm tăng chiều cao, cân nặng. Đương nhiên cần hiểu kẽm không phải là yếu tố duy nhất.
Dinh dưỡng chung và chiều cao.
Thế nào là giới hạn chiều cao trong khuôn khổ di truyền.
Nói một cách nôm na là chiều cao của con xấp xỉ chiều cao trung bình của bố và mẹ. Chiều cao của con (H) bằng chiều cao trung bình của bố (h1) và mẹ (h2).
H = (h1+h2)/2
Thực ra, chiều cao của con thường phụ thuộc vào bố nhiều hơn nghĩa là H = k1h1+ k2k2 : 2 trong đó k1> k2 nhưng ở đây dùng công thức tạm tính trên cho dễ hiểu.

Lượng kẽm cần thiết cho trẻ

Nhu cầu kẽm của trẻ thay đổi theo giới tính, thời gian: Từ tuổi 13 trở đi cho đến khi thành người trưởng thành nhu cầu kẽm mỗi ngày của nam lớn hơn nữ khoảng 2 mg.
Trẻ em: mỗi ngày từ sơ sinh đến một tháng tuổi 0,8 mg; từ 3-10 tuổi 10 mg, từ 10-12 tuổi 12 mg, từ 13-19 tuổi 12 mg (nữ)-15mg (nam). Nhu cầu kẽm của trẻ thay đổi theo giới tính, thời gian: Từ tuổi 13 trở đi cho đến khi thành người trưởng thành nhu cầu kẽm mỗi ngày của nam lớn hơn nữ khoảng 2 mg. Trong 3 tháng đầu nhu cầu mỗi ngày là 120-140 microgam/kg thể trọng, đến 6-12 tháng hạ xuống 33 microgam/kg thể trọng và ở tuổi dậy thì tăng đến 15mg.
Người mang thai: mỗi ngày suốt thai kỳ trung bình là 20mg, ở 3 tháng cuối thai kỳ nhu cầu kẽm hàng ngày gấp đôi người không mang thai. Người cho con bú: Lượng kẽm trong sữa mẹ trong 3 tháng đầu là 2-3mg/lít, sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/lít. Tính ra trong 3 tháng đầu, mỗi ngày bà mẹ nuôi con bú tiết vào sữa khoảng 1,4 mg kẽm. Do đó nhu cầu kẽm của bà mẹ nuôi con bú cao gấp 3 lần người mẹ không cho con bú. Mồi ngày nhu cầu trung bình là 25 mg.
Người già, người bị bệnh tiểu đường, người uống nhiều rượu, người nghiện hút thuốc lá, người bị bệnh đường ruột… do sự hấp thu kẽm bị rối loạn nên cần một lượng kẽm nhiều hơn người bình thường. Mỗi ngày nhu cầu ở người già là 12-13 mg.
Tỷ lệ hấp thu kẽm từ thức ăn là 33%, chủ yếu ở ruột non. Việc hấp thu kẽm lệ thuộc vào nhiều yếu tố: Kẽm trong thực vật khó hấp thu hơn kẽm trong động vật. Khi chế độ ăn có nhiều thực vật mà lượng phytate cao gấp 5-6 lần bình thường thì sẽ giảm hấp thu kẽm rất mạnh. Nhưng ngược lại khi trong chế độ ăn nhiều đạm thì lượng phytate tăng cao sẽ làm cho sự hấp thu kẽm tốt hơn. Như vậy, mặc dù trong thực vật có nhiều kẽm, nhưng chế độ ăn chỉ có nhiều ngũ cốc, thiếu chất đạm sẽ dẫn đến thiếu kẽm. Tỷ lệ hấp thu kẽm từ sữa bò thấp hơn từ sữa mẹ. Sữa đậu nành tỷ lệ phytate cao nên sự hấp thu kẽm thấp. Sự giảm bài tiết dịch vị dạ dày, thức ăn có nhiều chất sắt vô cơ, chất phytate làm giảm sựu hấp thu kẽm. Ngược lại, khi tăng tiết dịch vị, tăng vitamin C, sẽ làm tăng hấp thu kẽm. Trong khi đó mỗi ngày cơ thể bài tiết qua phân 5-6 mg, qua nước tiểu 0,5 mg, qua mồ hôi (1mg/l), mỗi ngày người vận động đổ nhiều mồ hôi có thể làm tiêu hao thêm khoảng 3 mg kẽm, vận động viên thi đấu mất thêm 5-10mg kẽm so với người bình thường.
Trong thực vật kẽm nằm ở phấn hoa, nhụy hoa, lá mầm (của hạt). Xay xát nhiều làm mất đi lớp vỏ lụa, lá mầm thì lượng kẽm bị mất đi.

Tác dụng của kẽm với dinh dưỡng

Thiếu kẽm, sẽ làm giảm tính nhạy cảm đối với thức ăn, làm cho thức ăn có vị ngọt trở thành đắng.
Kẽm giúp vào sự chuyển hóa của các tế bào vị giác. Thiếu kẽm, sẽ làm giảm tính nhạy cảm đối với thức ăn, làm cho thức ăn có vị ngọt trở thành đắng, mất cảm giác ăn ngon, trẻ sẽ chán ăn.
Kẽm là chất điều hòa tự nhiên chất chuyển vận thần kinh amino- adreneegie, thiếu kẽm sẽ dẫn tới rối loạn tập tính. Kẽm giúp vận chuyển calci vào não, thiếu kẽm sẽ làm cho sự vận chuyển đó bị trở ngại, ảnh hưởng đến thần kinh, dễ sinh ra cáu gắt.
Kẽm đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển, duy trì các cơ quan sinh dục. Trong số kẽm được phân bố vào cơ quan sinh dục thì có tới 70% tập trung ở tuyến tiền liệt, thiếu kẽm thì tuyến tiền liệt sẽ bị u xơ. Có khoảng 50% đàn ông bị bệnh phì đại tuyến tiền liệt vì thiếu kẽm.
Kẽm đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, phân tiết hormon tăng trưởng insulin, thymulin.
Kẽm là một trong các thành phần cấu tạo nên các men gan: tranferase, hydolase, lyase, isomease, ligase, oxidoreductase, transcriptase, alcoldehydrogennase, phosphatase nhất là các men chống oxy hóa superoxidase, dismutase. Kẽm cần thiết cho việc tổng hợp protein, trong đó có sự hình thành collagen cho mọi tế bào, một thành phần quan trọng của mô liên kết da, của tổ chức sụn khớp. Vì lẽ này người ta coi kẽm có vai trò trong việc giải độc chung và chống lại một vài hóa chất độc (một số kim loại nặng, cardimi) chống lão hóa, làm cho vết thương bên ngoài và bên trong chóng lành, chống sừng hóa da, chống khô da, làm đẹp da.
Kẽm sẽ cùng với vitamin A, B6, E… giúp tuyến ức (thymus) làm tăng cường khả năng miễn dịch, giúp cho trẻ em, người già (có khả năng miễn dịch yếu kém) chống chọi với các bệnh nhiễm khuẩn. Do đóng góp vào vai trò chống các gốc tự do (gây đột biến tế bào) nên kẽm hỗ trợ trong việc ngăn ngừa, phát triển ung thư. Kẽm giúp giảm cholesterol, ngăn ngừa làm chậm xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ các bệnh tim mạch.
Một phần của kẽm được phân bố trong da, lông, tóc, móng. Thiếu kẽm da niêm mạc dễ bị bệnh nhiễm khuẩn hay bị viêm niêm mạc miệng lưỡi, tóc xơ cứng, móng dễ bị gãy, khi gãy sẽ chậm mọc lại, có những bớt trắng.
Nhu cầu và hấp thu kẽm:
Tổng lượng kẽm trong cơ thể rất nhỏ bé, chỉ khoảng 2-3 gam tập trung ở trong các mô và tổ chức gan, thận, da, tóc, móng, cơ quan sinh dục, trong dịch cơ thể.
Nhu cầu mỗi ngày 0,2mg/1kg thể trọng. Trong đó một số đối tượng sau đây có nhu cầu kẽm cao, dễ thiếu.

Lưu ý khi dùng vitamin D

Tuyệt đối không được dùng vitamin D (đặc biệt là loại có tác dụng kéo dài hoặc có hàm lượng cao) cho người bị calci huyết tăng, calci niệu tăng, sỏi thận (loại calci).
Khi dùng loại vitamin D liều đặc biệt cao (ví dụ như Auxergyl D3, dạng ống chứa 200,000IU vitamin D3, kèm theo 50,000IU vitamin A) thì nhất thiết phải dùng theo đơn thầy thuốc nhằm chữa một số bệnh nhất định (như để trị còi xương, trị các cơn co giật do thiếu calci huyết, bệnh nhuyễn xương do thiếu vitamin D), tuyệt đối không tự ý dùng với mục đích khác (như muốn dùng chúng cùng thuốc chứa calci với hy vọng làm tăng chiều cao của trẻ), phải tuân thủ liều lượng được chỉ dẫn (ví dụ ở trẻ em, không được đùng quá 3 ống 1 năm).
Tuyệt đối không được dùng vitamin D (đặc biệt là loại có tác dụng kéo dài hoặc có hàm lượng cao) cho người bị calci huyết tăng, calci niệu tăng, sỏi thận (loại calci).
Hàm lượng Vitamin D trong các sản phẩm rất thay đổi. Ví dụ: 1 gam (30 giọt) dầu gan cá đậm đặc chứa 5.000 IU, trong khỉ 1 gam dầu gan cá thường chỉ chửa 500 IU Vitamin D3; hoặc 1 ml sterogyl chửa 0.25 mg nhưng 0,1 ml sterogyl 15A lại chứa tới 10 mg Vitamin D2. Tránh lẫn lộn vả tính toán kỹ (để tránh dùng không đủ hay quá liều).
Có một số sản phẩm kết hợp Vitamin D vả A với hàm lượng không tương thích. Ví dụ: Trong dầu gan cá đậm đặc 1 gam chứa 5.000IU Vitamin D và 50.000 ỈU Vitamin A. Nếu trẻ dưới 4 tuổi còi xương muốn bổ sung mỗi ngày 3 giọt dầu này (ứng với 500IU Vitamin D thì vô tình phải dùng kèm mỗi ngày tới 5000IU Vitamin A, gây thừa Vitamin A. Cần xem xét có sự phối hợp sự tương thích hay không (để tránh dùng thừa loại này hoặc loại kia).
Kẽm có vai trò như thế nào với chiều cao, căn nặng?
Vai trò của kẽm:
Được tìm thấy năm 1905 nhưng mãi đến năm 1934 các nhà khoa học mới bắt đầu nhận thấy và sau này biết rõ nhiều hơn về vai trò của kẽm đối với con người.
Kẽm đóng một vaỉ trò quan trọng trong việc nhân đôi tế bào tức quá trình sinh sản tăng trưởng của người, trước hết là của trẻ em. Bà mẹ lúc mang thai thiếu kẽm có nguy cơ sinh non gấp 3 lần, trẻ sinh ra sẽ bị nhẹ cân, giảm chiều cao so với trẻ bình thường. Thiếu kẽm, sự phân chia tế bào khó xảy ra, ảnh hưởng không lợi đến sự tăng trưởng: làm chậm sự phát triển chiều cao, cân nặng, rối loạn phát triển xương, chậm dậy thì, giảm chức năng sinh dục. Bổ sung kẽm cho những đối tượng thiếu kẽm sẽ cải thiện chiều cao cho trẻ thấp lùn, làm tăng cân nhanh trẻ suy dinh dưỡng.

Các loại vitamin D thường gặp

Vitamin D3 tổng hợp được chọn dùng tốt nhất cho trường hợp loạn dưỡng xương do thận. Vitamin D3 mạnh hơn vi- tamin D2, được dùng với liều thấp hơn vitamin D2.
Qua chuyển hóa, cuối cùng chúng đều chuyển thành dạng có hoạt tính sinh học nhưng vì các quá trình chuyển hóa đó không như nhau nên tác dụng của chúng cũng không hoàn toàn giống nhau, độ mạnh và liều lượng cũng khác nhau. Một thí dụ: Vitamin D3 tổng hợp được chọn dùng tốt nhất cho trường hợp loạn dưỡng xương do thận. Vitamin D3 mạnh hơn vi- tamin D2, được dùng với liều thấp hơn vitamin D2. Trừ khi cần chọn lựa đặc biệt, đa số trường hợp thầy thuốc thường kê đơn vitamin D3. Khi gặp một sản phẩm có thể không phải là vitamin D3 vẫn thay thế được song cần điều chỉnh lại liều.. ’
Ở người có chức năng cận giáp và sự đáp ứng thuốc bình thường, khoảng cách giữa liều có thể gây ra nhiễm độc (từ 50.000 IU trở lên), cách khá xa với liều dùng thông thường (200-400 IU). Tuy nhiên, ở người cường cận giáp hoặc có sự đáp ứng thuốc tăng thì có khi dùng liều không cao vẫn có thể xảy ra nhiễm độc. Cần thận trọng khi dùng cho những người dễ có nguy cơ nhiễm độc vitamin D.
Trong trường hợp bị hạ calcỉ huyết cần điều trị bằng vitamin D thì phải dùng tại bệnh viện (hoặc nhờ bệnh viện theo dõi) vì chỉ tại đó mới có đủ điều kiện xác định nồng độ calci huyết, điều chỉnh liều để khống chế nồng độ calci huyết ở trong khoảng 9-10 mg/decilit, không vượt quá 11 mg/decilit. Nếu dùng “áng chừng” tại nhà để xảy ra quá liều, làm chuyển từ trạng thái hạ sang tăng calci huyết, nguy hiểm hơn.
Khi dùng vitamin D để điều trị một số bệnh, nếu tháy đã có cải thiện về triệu chứng hoặc các chỉ số xét nghiệm sinh hỏa trở lại bình thường) thì cần giảm liều.Ví dụ: khi bị còi xương, mỗi ngày dùng 1.000 IU trong khoảng 10 ngày nồng độ calci máu thường trở về bình thường, trong vòng 3 tuần sẽ có biểu hiện khỏi bệnh trên phim X quang, cần điều chỉnh hoặc ngừng dùng đúng lúc.
Khi đang dùng vitamtn D hoặc trong thời gian thuốc đang có hiệu lực do dùng dạng phóng thích chậm (như vitamin D3 BON 200.000IU/ml, có hiệu lực trong 6 tháng) thì không được dùng thêm một thuốc khác có chứa vitamin D. Ví dụ: Khi đang cho trẻ dùng bổ sung ergocalciferol (vitamin D2) thì không dùng thuốc chữa chán ăn kiddipharmaton có chứa vi- tamin D3. Trong thời gian dùng thuốc vitamin D3 BON 200000IU/ml đang còn hiệu lực thì không dùng thêm loại hỗn hợp chứa nhiều vitamin (như pharmaton trong đó 01 viên thường có 400IU vitamin D). Nếu khi đã dùng vitamin D kết hợp với calci thì cũng không nên dùng thêm thuốc chứa calci khác.

Bổ sung calci bằng thuốc

Trong các biệt dược này thường bố trí trong 5ml có 125-250-500 mg và trong 01 viên có 500-1000mg calci.
Thông thường hơn, có các biệt dược chứa cả calci và vitamin D như hỗn dịch caloshel, siro hỗn dịch calcium-D, viên sủi tan calcid, calci-D-vita. Trong các biệt dược này thường bố trí trong 5ml có 125-250-500 mg và trong 01 viên có 500-1000mg calci và một lượng vitamin D tương thích đủ để tiêu thụ calci (ví dụ trong 01 viên chứa 500 mg calci thường kèm theo 200 IU, trong 01 viên 1000 mg calci thường kèm 400 IU VitaminD). Dùng loại này tiện hơn hơn dùng các loại chứa đơn độc calci hay vỉtamin D. Khi đã dùng một loại calci và vitamin D thì trong suốt thời gian dùng thuốc đó hay trong suốt thời gian thuốc đó có hiệu lực (nếu dùng loại có tác dụng kéo dài) không được dùng thêm một loại chứa calci hay vitamin D khác để tránh dùng thừa gây tăng calci. Ngoài ra, trong một số trường hợp không được dùng calci, vitamin D đặc biệt là loại có hàm lượng cao như trường hợp có sỏi thận, tăng calci huyết.
Vitamin D cần nhưng không dùng thừa.
Một vài điểm chính về công dụng vitamin D.
Vai trò Vitamin D: Thúc đẩy quá trình tạo thành phức hợp protein- calci từ đó tăng cường hấp thu calci từ thức ăn; cùng với hormon cận giáp (parathyroỉd) giữ cho nồng độ, tỷ lệ canxi và phospho trong máu hằng định (calci: phospho = 0.7), nhằm đảm bảo quá trình tạo xương; đảm bảo các chức năng sinh lý (có liên quan đến nồng độ calci) hoạt động bình thường; giúp cho sự tái hấp thu calci, phospho tại ống thận. Dùng điều trị bệnh còỉ xương, nhuyễn xương, loãng xương, hạ calci huyết (do suy tuyến cận giáp).
Nhiễm độc do thừa vitamin D, cách tránh:
Khi dùng liều cao hoặc kéo dài thì xảy ra hiện tượng cường vita- min D. Hiện tượng này cũng có thể xảy ra khi dùng liều thông thường nhưng do sự đáp ứng thuốc tăng. Gọi chung là hiện tượng nhiễm độc do thừa viamin D. Nhiễm độc này làm tăng calci huyết dẫn đến một số triệu chứng như yếu mệt, ngủ gà, đau đầu, chóng mặt; chán ăn, khô miệng, buồn nôn, nôn, chuột rút ở bụng, táo bón; ù tai, giảm trương lực cơ, đau cơ, đau xương, dễ bị kích thích hoặc một số triệu chứng ít và hiếm gặp hơn như giảm tinh dục, nhiễm calci thận, rối loạn chức năng thận dẫn đến rối loạn tiểu, tăng huyết áp, loạn nhịp tỉm, tăng calci phospho nỉệu, tăng albumin nitơ urê huyết. Các triệu chứng thường không rõ, một số giống với triệu chứng thiếu vitamin D, dễ làm người bệnh nhầm lẫn, cần khám để phân biệt.
Vitamin D có nhiều loại, trong đó có: vitamin D3 (cholecalciferol) do cơ thể tự sinh ra hoặc do nguồn gốc động vật; vitamin D2 (ergocalciferol) do nguồn gốc thực vật; vitamin D3 (alphahydroxycalciferol) do tổng hợp.

Ảnh hưởng của lạm dụng thuốc

Corticoid ức chế niêm mạc ruột hấp thu calci, giảm sự tái hấp thu calci, phospho từ ống thận từ đó làm giảm chất nền của xương.
Đến giai đoạn 20-30 tuổi mức tăng trưởng xương chậm lại, mức tăng trưởng xương trung bình hàng năm là 0,5 đến 1%. Cần cung cấp đủ lượng calci cho yêu cầu tăng trưởng. Điều này không chỉ đảm bảo chiều cao, cân nặng, phát triển trí tuệ của trẻ mà làm tăng lượng calci dự trữ sẽ có ích khi bước vào tuổi trung niên, lão niên.
Lạm dụng thuốc: Corticoid ức chế niêm mạc ruột hấp thu calci, giảm sự tái hấp thu calci, phospho từ ống thận từ đó làm giảm chất nền của xương. Corticoid vừa thúc đẩy việc tạo xương vừa thúc đẩy việc hủy xương trong thúc đẩy sự tan xương là chính. Kết hợp lại corticoid gây loãng xương. Vì lẽ đó, ở tuổi trưởng thành càng không nên lạm dụng corticoid. Việc cung cấp calci bằng ăn uống rất quan trọng và có thể tốt hơn dùng thuốc. Khi lựa chọn thực phẩm có thể tham khảo bảng hàm lượng calci dưới đây.
Một vài chú ý: Hàm lượng calci trong thực phẩm chủ yếu là phần calci trogn thực phẩm ăn được. Ví dụ, trong hải sản là lượng calci trong phần thịt (không kể phần calci ở vỏ) hoặc ở trong trứng là ở lòng đỏ lòng trắng trứng (không kể calci trên phần vỏ). Một số tài liệu ghi lượng calci cao hơn bảng này rất nhiều là do tính cả phần calci ở phần vỏ. Calci trong vỏ hải sản hay vỏ trứng là phần không ăn được, không tan được nên thực tế không có ý nghĩa. Khi xem bảng không chỉ lưu ý đến hàm lượng calci mà còn lưu ý đến khả năng cơ thể hấp thụ calci của thức ăn đó (trong đó có tỷ lệ calci: phospho).
Về dùng thuốc:
Thầy thuốc dựa vào tiền sử bệnh tật trước đó (hạ calci huyết, còi xương) và các biểu hiện bệnh lý do thiếu calci ở lứa tuổi trưởng thành (chậm phát triển chiều cao, cân nặng, tư duy) để cho dùng calci, vitamin D. Trong thực tế vì hiện tượng thiếu calci ở lứa tuổi trưởng thành tương đổi phổ biến nên các bà mẹ thường tự mua calci, vỉtamin D cho trẻ uống và không mấy khi gặp tai biến do thừa calci. Tuy nhiên, không nên xem calci và vitamin D là thuốc vô hại, thuốc bổ, dùng quá tùy tiện, dẫn đến thừa calci, gây nên các tác hại khác.
Mỗỉ nước, mỗi vùng có chế độ ăn, mỗi trẻ cũng có mức hấp thu calci từ thửc ăn không giống nhau nên mức thiếu calci cũng khác nhau, cần căn cứ vào đỏ để định liều bổ sung thích hợp.
Trên thị trường có một số sản phẩm chỉ chứa calci như calcicorbier, calcium sandor hay chỉ chứa vitamin D2 (ergocalciferol), D3 (calciferol), ngoài ra còn có dạng có tác dụng kéo dài 6 tháng như vitamin D3 BON chứa 200.00IU D3/ml (dưới dạng cholecalciferol).

Khả năng hấp thụ calci

Một số acid amin (lysin, arginin, trytophan) thúc đẩy sự hòa tan muối calci nên làm tăng sự hấp thu calci.
Trẻ nhỏ có độ phân tiết acid ở dạ dày thấp (chỉ đạt được như ở người lớn sau 30 tháng tuổi), người cao tuổi, người bị viêm dạ dày, người bị cắt một phần dạ dày độ phân tiết acid giảm nên khả năng hấp thu calci cũng giảm theo.
Thành phần thức ăn: Lactose (một loại đường trong sữa), muối mật, một số acid amin (lysin, arginin, trytophan) thúc đẩy sự hòa tan muối calci nên làm tăng sự hấp thu calci. Ngược lại acid hydrochloric (có nhiều trong cây lương thực) hợp chất oxalat (khá nhiều trong rau chân vịt, rau dền) các phosphat kiềm, cellulose (có trong nhiều loại thức ăn) sẽ kết hợp với calci thành muối khó hòa tan làm giảm độ hấp thu calci. Acid béo kết hợp với calci thành các chất khó hòa tan cũng làm giảm sự hấp thu calci. Như vậy khi chọn thức ăn ta phải chọn loại thức ăn giàu calci nhưng calci đó phải ở dạng dễ hòa tan, dễ hấp thu.
Vitamin D: Vitamin dù ở dạng nào nhưng khi chuyển thành dạng hoạt tính (1,25-hydrovitamin D) thì sẽ có 3 chức năng quan trọng. Thúc đẩy tế bào niêm mạc ruột tạo thành phức protein-calci và chỉ khi tạo được phức này thì calci mới hấp thu được. Thúc đẩy sự hấp thu calci (và phospho) tại ống thận. Chuyển hóa calci thành dạng calci phosphat, một thành phần căn bản của xương.
Hormon parathyroid: Parathyroid là hormin của tuyến cận giáp. Khi calci huyết thấp, hormon parathyroid tăng, thúc đẩy sự phân giải xương thành ion calci, phospho phóng thích vào máu (bù cho lượng thiếu hụt). Khi calci huyết cao, hormon parathyroid giảm. Hormon parathyroid có ba chức năng: Thúc đẩy sự hợp thành 1-hydroxylase trong thận,giúp cho việc hình thành dạng vitamin D hoạt tính (1,25-hydrovitamin D). thúc đẩy việc tái hấp thu calci và ức chế việc tái hấp thu phospho tại ống thận. Thúc đẩy sự phân giải xương để chuyển calci từ xương ra máu khi calci máu hạ thấp.
Hormon sinh dục: Các hormon sinh dục có vai trò trong việc tạo xương. Ở nữ estrogen thúc đẩy sự hợp thành vitamin D hoạt tính, gián tiếp thúc đẩy sự tái hấp thu calci tại ống thận, thúc đẩy hoạt tính tế bào tạo xương. Ở nam, testosteron cũng thúc đẩy quá trình tạo và tăng trưởng xương. Trong lứa tuổi trưởng thành, nếu các hormon tuyến giáp, tuyến sinh dục phát triển không bình thường thì sẽ xuất hiện các trục trặc trong sự hấp thu calci và phát triển xương.
Tuổi tác: Từ khi mới sinh ra đến lúc 20 tuổi khả năng hấp thu calci cao hơn ở tuổi già rất nhiều và tỷ lệ tăng trưởng xương cũng rất nhanh, mức tăng trưởng xương hàng năm ở nam là 2,2% và ở nữ là 1,9%, bình quân mỗi ngày tăng thêm 130-160mg calci xương.

Calci rất quan trọng

Ở lứa tuổi trưởng thành, trẻ rất cần calci để phát triển xương về chiều dài. Thiếu calci, trẻ sẽ không phát triển chiều cao.
99% calci tập trung tại xương và răng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, phát triển, tiêu hủy các tổ chức này. Ở lứa tuổi trưởng thành, trẻ rất cần calci để phát triển xương về chiều dài. Thiếu calci, trẻ sẽ không phát triển chiều cao. Năm 1995, Trường Đại học Y khoa Trung Sơn (Trung Quốc) đac nghiên cứu thấy sự hấp thu calci mỗi ngày của trẻ em 5 tuổi Giang Môn chỉ 244mg trong khi ở Hồng Kông đến 524 mg và chiều cao cơ thể, mật độ chất khoáng xương của trẻ Giang Môn kém hẳn so với trẻ Hồng Kông.
Tuy chỉ có 1% calci còn lại trong máu và mô mềm nhưng lại có vai trò quan trọng, đảm bảo cho các hoạt động sinh lý và chuyển hóa tế bào. Calci có mặt ở màng tế bào, tham gia vào hoạt động của các enzym chuyển hóa protid, lipid, glucid. Ở tuổi trưởng thành thiếu calci các quá trình chuyển hóa này bị trở ngại, ảnh hưởng rất lớn đến dinh dưỡng. Calci phóng thích các chất dẫn truyền thần kinh nhằm đảm bảo dẫn truyền thông tin giữa tế bào thân kinh với các tế bào khác. Quá trình này cần cho việc học, nhớ, tư duy.
Nếu không được bổ sung đầy đủ calci thì trẻ vẫn phát triển nhưng ở mức thấp, không đạt mức chuẩn về chiều cao, cân nặng, khó khăn trong học tập, tư duy; tuy không xuất hiện các bệnh ngay lúc đó, nhưng tạo tiền đề cho các bệnh bộc phát ở thời kỳ trung niên, lão niên.
Làm thế nào để khỏi thiếu calci:
Về ăn uống:
Lượng calci thức ăn thường khác nhau. Việc hấp thu calci phụ thuộc vào tỷ lệ calci và phospho trong chính thức ăn ấy và nhiều yếu tố khác:
Tỷ lệ calci trên phospho: Tỷ lệ calci trên phospho là (1:1) –(2:1). Khi lượng calci nhiều hơn phospho thì việc hấp thu calci sẽ thuận lợi. Tỷ lệ calci trên phospho ở sữa người là (1,27-1,36):1, việc hấp thụ calci hơi kém hơn phospho nhưng còn thuận lợi hơn những loại sữa khác trong đó có lượng phospho lớn hơn như sữa bò. Mỹ khuyến cáo lượng calci trên phospho cho trẻ sơ sinh đến 2 tháng tuổi là (2:1), cho trẻ từ 2 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi là (1,5:1,2):1 và cho trẻ 1 tuổi trở lên đến cuối đời là (1:1).
Độ acid base trong đường ruột: Calci trong thức ăn ở dạng muối, sau khi ăn vào phải hòa tan phân ly ra ion calci mới hấp thu được. Acid trong dạ dày làm nhiệm vụ chuyển hóa muối calci trong thức ăn thành dạng ion. Phần trên của ruột non (tá tràng) là nơi hấp thu được nhiều calci nhất. Những nhân tố làm tăng lượng acid ở đường ruột đều có lợi cho việc hấp thu calci.