Ưu điểm của việc phơi nắng

Trước hết lớp da tạo thành vitamin D3 dạng nguyên, sau đó dần dần chuyển hoá thành vitamin D3 hoạt tính.
Hai ưu điểm lớn trong phương pháp cung cấp vitamin D bằng cách phơi nắng là:
Tiết kiệm tiền bạc.
Dưới ánh sáng mặt trời, trước hết lớp da tạo thành vitamin D3 dạng nguyên, sau đó dần dần chuyển hoá thành vitamin D3 hoạt tính, nhưng khả năng kết hợp của các anbumin trung chuyển để đưa các vitamin D3 trong máu với vitamin D3 chỉ có 1/1000, đa số vitamin D3 nguyên còn lại sẽ thải ra ngoài cơ thể qua da, do đó tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời cũng không phải lo lắng đến khả năng nhiễm độc vitamin D.
Tuy nhiên, khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần chú ý đên 3 điểm sau:
Do khả năng xuyên thấu của tia tử ngoại rất kém, các loại kính cửa sổ thông thường có thể ngăn chặn được; ngoài ra mây mù, bụi và quần áo đều có thể làm giảm hiệu quả nên để đạt được hiệu quả hữu hiệu cần phải tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời.
Tia tử ngoại có tác dụng kích thích đối với võng mạc mắt, do đó dùng lưng phơi nắng, đồng thời tháo bỏ quần áo sẽ có thể tăng diện tích tiếp xúc với ánh nắng; nếu phơi nắng ở tư thế nằm ngửa thì cần phải đeo kính chống nắng.
Ánh nắng vào mùa hè rất mạnh nên bạn có thể phơi nắng dưới bóng cây hoặc dưới mái nhà, nhưng hiệu quả của nó chỉ bằng một nửa so với phơi nắng trực tiếp.
Phơỉ nắng là một phương pháp an toàn, đơn giản, hiệu quả mà lại không tốn kém để phòng ngừa và chữa trị bệnh còi xương, do đó biện pháp này cần được áp dụng rộng rãi.
Phương thuốc chữa bệnh còi xương.
Đối với trẻ bị còi xương, các bác sĩ chủ trương cho trẻ dùng Vitamin D3 và uống bổ sung canxi. Trên thực tế, đại đa số trẻ bị còi xương là do cơ thể thiếu vitamin D, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ canxi và photpho của trẻ. Lúc này cho dù tăng cường cho trẻ ăn các thức ăn có chứa nhiều canxi và photpho đường ruột của trẻ cũng không thể có khả năng hấp thụ được, do đó sẽ cản trở sự phát triển bình thường của hệ xương.
Vitamin D3 là loại thuốc có chứa itamin D, nhưng hàm lượng của hai loại này cs sự khác biệt rất lớn: vitamin D3 chỉ chứa D, hàm lượng của mỗi một ống là 30 vạn đơn vị quốc tế, mỗi một mũi tiêm có thể duy trì hiệu quả điều trị trong vòng một tháng, bởi vậy trong thời gian này không cần dùng thêm dầu gan cá, dùng loại thuốc có chứa hỗn hợp của vitamin D và canxi, mỗi một ống chứa 5000 đơn vị quốc tế tiêu chuẩn, chỉ bằng 1/60 so với vitamin D3.

Tính mức năng lượng thiết yếu

Tổng năng lượng hàng ngày, một người là nữ, nặng 60 kg tĩnh tại cần 25 Kcalo/kg X 60 kg = 1500 Kcalo, lao động vừa 30 Kcalo/kg X 60 kg = 1800 Kcalo.
Người lao động vừa: Nam: 35 Kcalo/ kg thể trọng/ngày; nữ : 30 Kcalo/kg thể trọng/ngày.
Người lao động nặng: Nam: 45 Kcalo/kg thể trọng/ngày; nữ: 40 Kcalo/kg thể trọng/ ngày.
Như vậy tổng năng lượng hàng ngày, một người là nữ, nặng 60 kg tĩnh tại cần 25 Kcalo/kg X 60 kg = 1500 Kcalo, lao động vừa 30 Kcalo/kg X 60 kg = 1800 Kcalo nhưng lao động nặng 40 Kcalo/kg X 60 kg= 2400 Kcalo.
Từ tổng năng lượng có thể tính ra chi tiết các thức ăn cơ bản.
Bảng tính thức ăn cơ bản cho một nam, lao động vừa, nặng 60 kg. Tổng năng lượng: 35 Kcalo/kg X 60 kg = 2100 Kcalo. Trong đó:
Glucid: chiếm 55-60% tổng năng lượng — 1155-1260 Kcalo, tương đương với 288-315 gam glucid tinh (lg = 4 Kcalo).
Protid: chiếm 15-20% tổng năng lượng = 315-420 Kcalo, tương đương với 78.7-105 gam glucid tinh (lg = 4 Kcalo).
Chất béo: Chiếm 15-20% tổng năng lượng = 483-630 Kcalo, tương đương với 63.6-70 gam.
Chất béo tinh (1g= 9 Kcalo). Tính gộp chất béo no chiếm 1 phần, chất béo không no chiếm 2 phần. Trong đó chất béo không no một nối đôi chiếm 7-10%, chất béo không no nhiều nối đôi 10-15%. Cholesterol < 300mg. Trong thực tế hay dùng cách tính gộp. Một số dầu trên thị trường đã phối chế giữa chất béo no và không no theo cách tính gộp này.
Rau: 350 gam,100 g rau chỉ có 2g- (<4g) glucid nên năng lượng không đáng kể, rau chủ yếu là cung cấp vitamin, khoáng chất, vi lượng, chất xơ.
Quả: 50gam. 100g quả chỉ có 10 g glucid nên năng lượng không đáng kể. Rau chủ yếu cung cấp vitamin, khoáng chất, vi lượng, chất xơ.
Muối: 5-6 gam. Tùy theo thức ăn thô chứa bao nhiêu phần trăm thức ăn tinh mà tính ra thức ăn thô: thí dụ glucid có trong gạo là 80%. Vậy 315 gam glucid tinh ứng với 398 gam gạo thô.
Thức ăn có năng lượng thấp.
Khi chống béo, ăn ít lại. Khi ăn ít sẽ bị đói, vì đói nên buộc phải ăn thêm. Ăn thêm lại thừa năng lượng, thừa chất dinh dưỡng, lại bị béo. Đó là vòng luẩn quẩn. Để khắc phục, cần chọn thức ăn năng lượng thấp. Thức ăn năng lượng thấp là loại thức ăn có khối lượng lớn làm cho cơ thể có cảm giác no, không thể ăn thêm, nhưng lại sinh ra ít năng lượng, nên không thừa năng lượng, không gây béo. Chẳng hạn 100 gam rau quả tươi thể tích rất lớn nhưng chỉ cho 20-40 Kcalo trong khi đó 100 gam protein có thể tích nhỏ hơn nhiều lại cho tới 400 Kcalo.
Khả năng làm no của thực phẩm được đánh giá bằng chỉ số no.Với cùng một khẩu phần ăn sinh ra 240 Kcalo.

Cân đối lượng dinh dưỡng

Vì thế trong ăn cần chú ý cả vấn đề cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng. Chẳng hạn nếu chỉ ăn no chất bột mà thiếu chất đạm thì sẽ thiếu chất dinh dưỡng.
Ăn nhiều chất đạm sẽ buộc gan thận làm việc nhiều hơn để đào thải urê amoniac dặc biệt dễ gây nguy hiểm cho những người bị bệnh gan thận, tiểu đường. Ăn nhiều chất béo bão hòa (mỡ) làm
tăng Cholesterol xấu (LDL) việc tăng này lại liên quan đến bệnh vành. Vì vậy phải bố trí cân đối.
Các chất trong các tầng trên có thứ chủ yếu tạo cho cơ thể nguyên liệu để hình thành, phát triển tế bào các mô các tổ chức thay cho những phần bị thoái hóa chết (như chất đạm), có thứ cung cấp năng lượng là chủ yếu để đảm bảo các hoạt động bao gồm hoạt động duy trì sự sống (như chất bột). Nói một cách ngắn gọn là để sống và hoạt động. Vì thế trong ăn cần chú ý cả vấn đề cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng. Chẳng hạn nếu chỉ ăn no chất bột mà thiếu chất đạm thì sẽ thiếu chất dinh dưỡng. Để cân đối hai mặt này sẽ có qui định năng lượng mỗi loại chất cần cung cấp bao nhiều là vừa. Chẳng hạn năng lượng do chất béo cung cấp chỉ ở mức 20% nếu ở xứ lạnh có thể đến cao nhất 30% trong tổng năng lượng chung, trong đó mỡ bão hòa (mỡ lợn, mỡ bò) chỉ nên chiếm 7%, cao nhất là 10% trong tổng số năng lượng chung, nghĩa là ăn theo tỷ lệ dầu trên mỡ là 2:1.
Mới nhìn qua có cảm giác như có sự trùng lặp chất trong các tầng: Chẳng hạn tầng đáy là lương thực và đậu, tầng 5 là đường đều là hydrat- carbon. Nhưng đường là đường đôi dễ hấp thụ hơn chất bột trong lương thực. Tầng hai là sữa, chế phẩm của sữa và tầng 4 thịt, cá, trứng đều cung cấp protein nhưng protein trong sữa khác với protein trong thịt, cá, trứng hơn nữa sữa giàu một số chất mà trong thịt, cá, trứng không có. Thức ăn cụ thể trong mỗi tầng cũng không hoàn toàn giống nhau. Thịt, cá, trứng đều cung cấp protein nhưng cá dễ tiêu thụ hơn lại giàu calci, giàu acid béo cần thiết hơn thích hợp với người già hơn là thịt. Khi đi vào mỗi tầng, nên chú ý đến sự khác nhau trong mỗi thực phẩm cụ thể. Nguyên tắc chung là đa dạng hóa thức ăn chứ không ăn mãi một thứ.
Ăn uống xô bồ không tính toán sẽ gây mất cân đối vừa thiếu, vừa thừa chất,ăn không điều độ gây cảnh “no đồn đói góp” đều không có lợi cho sức khỏe.
Có thể tính năng lượng ăn theo bảng sau:
Tổng năng lượng cho một ngày tính theo cân nặng.
Người tĩnh tại (nghỉ ngơi): Nam: 30 Kcalo/kg thể trọng/ngày; nữ : 25 Kcalo/kg thể trọng/ngày.

Tháp dinh dưỡng hợp lý

Chẳng hạn: tầng 4 tháp chỉ chất protetn. Không câu nệ vào thức ăn đó phải là thức ăn động vật như thịt, cá, trứng mà có thể là thực vật như đậu phụ.
Theo đó:
Số bữa ăn trong ngày là 4.
Tầng đáy tháp: Lương thực, Đậu. Tổng lượng: 400-500 gam. Tỷ lệ lương thực trên đậu là 10:1.
Tầng 2 tháp: Rau Quả. Tổng lượng: 300-40 gam. Tỷ lệ giữa rau và quả là 8:1.
Tầng 3 tháp: Sữa và chế phẩm của sữa. Tổng lượng: 200-300 gam.
Tầng 4 tháp: Thịt. Cá, Trứng. Tổng lượng 100-200 gam.
Tầng đỉnh tháp: Dầu, Đường, Muối.
Áp dụng:
Mỗi tầng tháp chỉ rõ một loại chất dinh dưỡng nhất định: Chẳng hạn: tầng 4 tháp chỉ chất protetn. Không câu nệ vào thức ăn đó phải là thức ăn động vật như thịt, cá, trứng mà có thể là thực vật như đậu phụ miễn là hàm lượng và năng lượng của protein của thức ăn đó tương đương với 100-20 gam thịt, cá, trứng. Tầng 3 là sữa và chế phẩm của sữa tức là pro-tein, muối khoáng, vi lượng, các acid béo thiết yếu, DHA, ARA, Cholin có trong loại sữa thông thường. Có thể dùng sữa động vật như sữa bò, dê, trâu nhưng cũng có thể dùng sữa thực vật như sữa đậu nành kết hợp với các chất khác sao cho đủ hàm lượng, năng lượng của các chất trên là được.
Năm loại thức ăn trong 5 tầng tháp nói trên đều cần thiết quyết định sự sống, hoạt động của con người tuy hàm lượng và năng lượng của chúng có thể khác nhau nhưng tầm quan trọng thì không kém. Chẳng hạn: Rau quả tuy không cung cấp năng lượng nhưng lại cung cấp vitamin, các chất khoáng, các yếu tố vi lượng mà các loại này không thể thiếu trong các quá trình chuyển hóa chất. Dầu mỡ chỉ cần một lượng vừa đủ, song cũng không thể thiếu vì không có dầu mỡ thì việc hấp thụ vitamin tan trong dầu (D,A,E.K) kém. Thiếu vitamin D sẽ trở ngại trong việc hấp thu chuyển hóa calci phospho làm kém hình thành phát triển xương. Thiếu vitamin A sẽ gây bệnh khô mắt quáng gà, làm chậm sự phát triển chiều cao, cân nặng, suy yếu khả năng chống nhiễm khuẩn của trẻ, không làm chậm được quá trình lão hóa ở người già. Thiếu dầu mỡ thì dự trữ mỡ dưới da ít, do đó kém khả năng chống rét. Ngoài ra, trong các loại dầu còn chứa các acid béo thiết yếu, một số trong đó rất cần cho sự phát triển của não và tăng khả năng miễn dịch như omega-3. DHA, omega-6, ARA. Vì vậy phải bố trí đủ chất.
Mặt khác, nếu ăn thừa chất này hay chất khác cũng gây hại. Chẳng hạn: ăn nhiều chất bột, sẽ tăng glucose huyết sau khi ăn, kích thích giải phóng insulin,..tăng tổng hợp triglycerid, làm giảm cholesterol tốt (HDL) một số tiểu thề cholesterol tốt trở nên dễ nhạy cảm với quá trình oxy hóa gây xơ hóa, cứng mạch.

Các di chứng sau phẫu thuật

So với cách phẫu thuật bắc cầu dạ dày thì cách thu nhỏ dạ dày có độ an toàn cao hơn (theo báo cáo khoa học của Hội Dạ dày ruột, Hội nội soi dạ dày-ruột, Hội tiêu hóa Mỹ).
Khắc phục bằng cách:cho uống muối mặt 6 tháng liền sau phẫu thuật. So với cách phẫu thuật bắc cầu dạ dày thì cách thu nhỏ dạ dày có độ an toàn cao hơn (theo báo cáo khoa học của Hội Dạ dày ruột, Hội nội soi dạ dày-ruột, Hội tiêu hóa Mỹ) nhưng vẫn có khoảng 7% có hiện tượng nghẽn sau mổ.
Có 10 – 20% sau khi trải qua phẫu thuật cần phải tái phẫu thuật chỉnh sửa lại các điều chưa đạt được trong lần phẫu thuật trước: chẳng hạn như thoát vị thành bụng, tuột xổ đường kẹp.
Sau phẫu thuật bắc cầu dạ dày ruột hay thu nhỏ dạ dày cần thay đổi thói quen trong ăn uống: tập nhai kỹ hơn trước, tách hẳn thức ăn lỏng với thức ăn đặc, cứng. Điều này tạo ra cảm giác thiếu thoải mái, cần có thời gian thích nghi.
Ai nên dùng phẫu thuật?
Chỉ dùng cho một số người béo phì nặng, còn lại vẫn dùng chế độ ăn hay thuốc. Rất nhiều nước ở u Mỹ và một số ít nước Châu Á đã dùng thủ thuật này: hiện mới áp dụng một sổ nơi ở nước ta. Một số trung tâm thấm mỹ tư của ta thường treo biển phẫu thuật làm đẹp, phẫu thuật làm giảm eo, phẫu thuật làm cho bụng thon thả nhưng thực chất chỉ là hút mỡ, kỹ thuật thấp hơn hai cách phẫu thuật nói trên. Cho đến hiện nay một số bệnh viện trung ương mới làm các phẫu thuật chống béo như nói trên.
Chế độ ăn khoa học: phòng tránh béo phì và các bệnh tật khác.
Mục đích:
Chế độ ăn khoa học (còn gọi là tháp dinh dưỡng) thiết kể nhằm mục đích cung cấp đủ năng lượng hoạt động, đủ và cân đối chất để duy trì phát triển cơ thể từ đó tăng cường sức khỏe, phòng tránh một số bệnh tật trong đó có bệnh béo phì.
Nội dung:
Thiết kế chế độ ăn tùy theo mức sống, tập quán ăn uống, tùy theo từng thời kỳ. Chẳng hạn: Châu u dùng sữa nhiều hơn châu Á và ngay ở châu Á thì trước đây ít dùng sữa bằng bây giờ. Khi áp dụng các số liệu khuyến cáo trong bản thiết kế chế độ ăn cũng không nên máy móc mà còn phải tùy tình hình: Người lao động chân tay cần nhiều năng lượng có thể tăng nhưng người già thì có thể giảm chất bột. Ở xứ lạnh hay về mùa đông thì tăng nhưng ở xứ nóng hoặc mùa hè thì giảm mỡ.
Dưới đây, giới thiệu bảng tháp dinh dưỡng của Trung Quốc, một nước có tập quán ăn uống gần giống với nước ta, cũng có thể phù hợp với điều kiện ăn uống đầu thế kỉ 21, có đôi chút khác với tháp dinh dưỡng 1995- 2000 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia nước ta.

Phẫu thuật giảm béo

Tức là buộc thức ăn đi theo đường tắt, bỏ nhiều khúc ruột không đi qua, nên giảm lượng chất hấp thu, từ đó giảm thừa năng lượng.
Bắc cầu dạ dày ruột: Tức là buộc thức ăn đi theo đường tắt, bỏ nhiều khúc ruột không đi qua, nên giảm lượng chất hấp thu, từ đó giảm thừa năng lượng. Cách này giảm cân nhanh song có nhiều tác dụng phụ kể cả suy dinh dưỡng.
Thu nhỏ dạ dày lại: Cho một dải silicon đặt bao quanh dạ dày có thể bơm phồng lên nhằm hạn chế lượng thức ăn, làm chậm lưu chuyến thức ăn từ dạ dày xuống ruột non (gọi là thủ thuật Lap-Band). Thủ thuật này có khả năng làm giảm được 45% số cân thừa, dùng để điều trị cho người béo phì nặng, khá an toàn, giảm được một số bệnh.
Phương pháp phẫu thuật có một số lợi ích:
Giảm cân nhanh. Trong trường hợp bị béo phì nặng (BMI=35-48) kèm theo các nguy cơ bệnh lý nghiêm trọng như cholesterol cao, huyết áp cao, ngưng thở lúc ngủ, có thêm bệnh tiểu đường hoặc vì béo mà không hoạt động được, đã thực hiện chế độ ăn uống luyện tập nhưng không hiệu quả thì sự giảm cân nhanh này là càn thiết.
So với dùng thuốc thì cách phẫu thuật có lợi hơn nhiều vì giảm cân nhanh hơn không phải dùng thuốc thường xuyên dễ gây độc hại. Sau khi, giảm cân mau lẹ do phẫu thuật sẽ tiếp tục duy trì giảm cân tiếp trong 18 – 24 tháng nữa. Về sau, có một vài người bệnh có thể tăng lại vài cân nhưng không bao giờ vượt quá ngưỡng lúc cũ.
Phẫu thuật bắc cầu dạ dày ruột có thể kết hợp làm giảm một số chứng bệnh lúc béo phì. Chẳng hạn đa số người bị tiểu đường sẽ trở lại bình thường, trừ một số ít thuộc diện bị tiểu đường nặng khá lâu, tuổi quá cao.
Qua phẫu thuật, chất lượng cuộc sống người bệnh tăng lên rõ rệt, năng động, thoải mái, không mặc cảm., lạc quan.
Nhưng cũng có thể có một số tai biến:
Có một số tai biến sau phẫu thuật song nếu biết cách có thể hạn chế được. Gần 30% sau phẫu thuật bắc cầu dạ dãy-ruột gây thiếu một số chất như vitamin, muối khoáng…. giảm hiệu năng insulin, gây giảm đường huyết nghiêm trọng ngoài ra còn ảnh hưởng đến các hormon khác, không lợi cho việc tiêu hóa thức ăn dẫn tới thiếu máu, suy dinh dưỡng, cần bổ sung các chất này. Phụ nữ trong độ tuổi sinh nở nên tránh mang thai sau phẫu thuật cho tới khi nào đạt được số cân nặng ổn định và sinh hoạt trở lại bình thường. Bởi lẽ, nếu không như thế thì sự thiếu máu do thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến thai nhi.
Gần 30% phẫu thuật thu nhỏ bao tử phát sinh ra sỏi mật (túi mật hình thành các cục cholesterol và các chất khác).

Tập thể dục giảm cân

Năng lượng tiêu hao phụ thuộc vào sự chủ động, khối lượng cơ bắp được vận động, nhịp vận động, thời gian vận động, cường độ co cứng các cơ.
Nếu chỉ giảm chất béo mà không khống chế năng lượng thì sự giảm cân không đáng kể (chỉ 3.2- 4,5 kg) nhưng vẫn có lợi hơn khi ăn nhiều chất béo. Mặt khác, phải ăn nhiều chất xơ giúp tăng cảm giác no, giảm đường huyết sau ăn, giảm đáp ứng insulin cũng có nghĩa là giảm nguy cơ tim mạch, tiểu đường.
Có người lại cho rằng tập bằng máy tốt hơn tập bằng tay chân. Điều này cũng không đúng. Năng lượng tiêu hao phụ thuộc vào sự chủ động, khối lượng cơ bắp được vận động, nhịp vận động, thời gian vận động, cường độ co cứng các cơ. Chỉ có yếu tố cuối cùng là lệ thuộc vào máy, còn 4 yếu tố còn lại phụ thuộc vào bản thân người tập. Bao giờ sự chủ động của người tập vẫn tốt hơn. Chủ động tự tập sẽ phối hợp nhiều động tác, huy động nhiều cơ tham gia, hoạt động một cách điều hòa sẽ làm mất năng lượng một cách từ từ nhưng có hiệu quả hơn là lệ thuộc vào máy.
Có người cho rằng tập càng ra nhiều mồ hôi càng tốt. Thực ra, người béo phì cần giảm lượng mỡ thông qua việc tiêu hao năng lượng, chứ không phải là giảm lượng nước trong cơ thể. Ra nhiều mồ hôi là mất nước, muối như vậy không có lợi cho cân bằng muối-nước vốn có trong cơ thể.
Có người chỉ tập một tuần một lần, kéo dài nhưng các ngày khác thì nghỉ tập. Đúng ra, cần tập vừa phải, đều đặn hàng ngày để giảm năng lượng từ từ, có lợi hơn là tập dồn dập vào một ngày.
Khi bắt đầu một môn luyện tập nào cũng phải xem có ảnh hưởng bất lợi gì đến các bệnh tật vốn có của mình không? Chạy là môn phổ biến cho số đông nhưng chưa thích hợp cho người có chứng tim đập nhanh, hay có chứng đau thắt ngực (ổn định, không ổn định), nhồi máu cơ tim.
Cũng nên xem xét không gian, thời gian luyện tập. Tuổi đã cao không nên tập vào lúc quá sớm, giá lạnh. Không chọn nơi bụi bặm, nhiễm khuẩn (đường phố, sân bệnh viên) để tập thở, hay tập vận động đòi hỏi hô hấp nhiều.
Tập luyện ai cũng có thể làm được, không tốn kém. nhưng phải kiên trì và biết cách mới có hiệu quả.
Phẫu thuật chống béo: vài điều nên biết.
Trước đây và hiện nay vẫn còn dùng là hút mỡ. Phần lớn là hút mỡ bụng. Không phải chỗ mỡ thừa ở vùng nào cũng dễ dàng hút được. Đạt được hiệu quả ngay nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, mỡ xuất hiện lại, phải tái hút mỡ.
Hiện có hai phương pháp phẫu thuật.

Béo phì gây xơ vữa động mạch

Xơ vữa động mạch dẫn đến chứng đau thắt ngực (không ổn định hay ổn định), nhồi máu cơ tim.
Béo phì làm tăng lượng mỡ nói chung và tăng lượng mỡ máu, gây tăng huyết áp, gây xơ vữa động mạy. Xơ vữa động mạch dẫn đến chứng đau thắt ngực (không ổn định hay ổn định), nhồi máu cơ tim. Béo phì tăng lượng mỡ dự trữ, làm trở ngại cho sự tiêu thụ, dự trữ glucose, dẫn đến tiểu đường tuýp hai. Tiểu đường tuýp hai gây tăng huyết áp. Tăng huyết áp lại làm trầm trọng thêm bệnh tiểu đường.
Những bệnh này dẫn đến các hệ lụy khác: chẳng hạn như tiểu đường tuýp hai dẫn đến bệnh da, bệnh khớp, bệnh mắt. Vì lẽ đó người ta coi béo phì là nguyên nhân gián tiếp hay trực tiếp làm giảm chất lượng cuộc sống, làm giảm tuổi thọ.
Nhằm phòng tránh bép phì cần có chế độ ăn, luyện tập thích hợp. Chế độ ăn phòng béo phì là chế độ ăn sát với tự nhiên (đủ, cân đối chất, đáp ứng đủ năng lượng sống, hoạt động phát triển). Muốn chữa béo phì phải dùng chế độ ăn chữa bệnh hay dùng thuốc. Chế độ ăn chữa béo phì không hoàn toàn giống với chế độ ăn tự nhiên (hoặc ít năng lượng hoặc không đủ, cân đối chất) ảnh hưởng không lợi đến sống, hoạt động, phát triển; chỉ có thể thực hiện trong thời gian chữa bệnh theo chỉ dẫn, không thể dùng kéo dài.
Năng lượng được biểu thị bằng calor hay kilocalor bằng calor. Trong các tài liệu thường viết Kcalo bay Ca lo (viết hoa chữ C) là có ý như nhau. Chẳng hạn ta viết năng lượng sống, hoạt động bình thường một người một ngày là 2000 Kcalo hay 2000 Calo là như nhau. Một số tài liệu viết năng lượng sống, hoạt động bình thường của mỗi người một ngày là 2000 calor (chữ c không viết hoa) là chưa đúng, cần nói ngay điều này trước để có thể hiểu, thống nhất cascch diễn đạt trong các phần dưới.
Chế độ ăn chữa béo phì.
Chế độ ăn giảm năng lượng:
Mục đích: chữa béo phì.
Nội dung: Khống chế năng lượng tối thiểu ở nam là 1000-1200 Kcalor, nữ 1200-1400 Kcalor. Trong đó: năng lượng do carbonhydrat. (chất bột) 55%-60%, năng lượng do lipid (chất béo) nhỏ hơn 30%. Kết hợp với vận động.
Hiệu quả: Sau 3 tháng, sẽ giảm được 8% cân nặng, đặc biệt giảm lượng mỡ bụng (vòng eo rút ngắn được từ 1,5 cm – 9,5cm).
Các ảnh hưởng khác: Do ăn nhiều chất, bột, sẽ tăng glucose huyết sau khi ăn, kích thích giải phóng insulin, tăng tổng hợp triglycerid, làm giảm cholesterol tốt (HDD, một số tiểu thể cholesterol tốt trở nên dễ nhạy cảm với quá trình oxy hóa, gây xơ hóa, cứng mạch. Ảnh hưởng tiêu cực này sẽ giảm đi nếu chỉ dùng chất béo bão hòa (mỡ) khoảng 7%, chất béo không bão hòa (dầu) khoảng 25% (trong tổng năng lượng chung).

Tác hại của béo phì

Béo làm phát sinh bệnh tiểu đường, gây ra các ảnh hưởng không lợi cho sinh hoạt tình dục.
Chẳng hạn béo làm phát sinh bệnh cao huyết áp và do dùng thuốc hạ huyết áp mà máu không dồn đến âm vật, âm đạo (làm co thắt âm đạo) làm giảm hứng thú tình dục. Béo làm phát sinh bệnh tiểu đường, gây ra các ảnh hưởng không lợi cho sinh hoạt tình dục. Béo có ảnh hưởng đến tâm lý không tự tin, lo thất bại, tâm lý này gây trở ngại cho sinh hoạt tình dục. Béo gây ra dị biệt về hình thể. Chẳng hạn khi mỡ đã nối liền mông và đùi thì vòng đùi quá to. Sự dị biệt đó làm cho vị trí giao hợp thiếu thuận lợi, hiệu quả giao hợp bị hạn chế, ảnh hưởng đến khoái cảm.
Béo quá còn ảnh hưởng không lợi khi mang thai: Calaudne đã quan sát trên 6947 người mang thai thấy có 365 người xuất hiện huyết áp cao(5,6%). Trong số người xuất hiện huyết áp cao này, người có cân nặng trên 90kg chiếm tới 43,6%, người có anbumin niệu chiếm 10 %. Megillirag quan sát trên 4215 người mang thai thấy: nếu trong vòng 20 đến 30 tuần mang thai mỗi tuần lễ tăng trọng quá 0,5kg thì sẽ xuất hiện chứng huyết áp cao. Béo còn làm cho thai to, tạo ra những đứa trẻ siêu nặng khi mới sinh đã nặng trên 4kg. Béo còn làm cho dễ sảy thai. Người mang thai bình thường(nặng 58,5kg), tỷ lệ sảy thai chỉ là 2,1% trong khi đó người mang thai béo(nặng 61,8kg) tỷ lệ sảy thai tới 8,7%. Tỷ lệ trẻ sinh ra đã bị tử vong của người béo gấp 3,5 lần so với người bình thường. Cơ bụng của người béo nhão, khó rặn, sức rặn yếu, khó đẻ. Béo cũng làm cho lớp mỡ bụng dày, việc kiểm tra trước khi đẻ gặp khó khăn.
Những biểu hiện này thường xảy ra ở người béo trung bình, nặng còn những người béo nhẹ hay béo quá nặng ít xảy ra hơn.
Béo ở nữ còn làm phát sinh nhiều nguy cơ khác ung thư cổ tử cung (chiếm 14 %), viêm tuyến sữa (nhất là người béo từ eo trở lên), ung thư tuyến trước khi bị ung thư kết tràng (60%).
Ngoài những ảnh hưởng có tính khác biệt đó ra, béo phì cũng gây ra một tác hại ở nữ giống ở nam: Béo phì làm tăng lượng mỡ nói chung và tăng lượng mỡ máu, gây tăng huyết áp, gây xơ vữa động mạy. Xơ vữa động mạch dẫn đến chứng đau thắt ngực (không ổn định hay ổn định), nhồi máu cơ tim. Béo phì tăng lượng mỡ dự trữ, làm trở ngại cho sự tiêu thụ, dự trữ glucose, dẫn đến tiểu đường tuýp hai. Tiểu đường tuýp hai gây tăng huyết áp. Tăng huyết áp lại làm trầm trọng thêm bệnh tiểu đường.

Béo-gầy: cách khắc phục để có dáng thon thả, khỏe mạnh.

Theo điều tra tại các phòng khám Trung Quốc thì có 60-80 % số người đến khám vì béo là nữ.
Cần có cách phòng chống béo phì hay gầy đúng cách. Không đơn thuần chỉ vì mục đích thẩm mỹ, quan trọng hơn là vì mục đích ngăn ngừa các bệnh tật liên quan khác.
Béo phì ở nữ có đặc điểm và ảnh hưởng gì khác biệt?
Béo phì chiếm tỷ lệ cao ở nước ở nước ở nữ. Theo điều tra tại các phòng khám Trung Quốc thì có 60-80 % số người đến khám vì béo là nữ. Cũng có thể một phần vì khía cạnh thẩm mỹ, nữ quan tâm đến béo nhiều hơn. Theo báo cáo điều tra tại Luân Đôn (Anh) thì tỷ lệ nữ vượt cân nặng lý tưởng từ 10 % trở lên rất cao: 25 đến 29 tuổi 21 %; 30 đến 39 tuổi ở 32,5 %; 40 đến 49 tuổi 52,6%; 50-59 tuổi 64,4%; 60-69 tuổi 59,6%. Ở nước ta chưa có một điều tra thống kê đầy đủ mà chỉ có những nghiên cứu của một số cơ sở khám chữa bệnh. Theo đó, béo phì nữ diễn ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt vào những thời kỳ có biến động về Hormon sinh dục dậy thì, có thai, mãn kinh.
Biểu hiện hình thể nữ béo phì cũng có điểm khác: thời kỳ chưa dậy thì hình thể nam nữ gần như nhau. Bắt đầu thời kỳ dậy thì cho tới khi sinh dục phát triển trọn vẹn thì ở nữ, tổ chức mỡ dưới da dần dần tích tụ ở một vài bộ phận, sau đó sự tích mỡ dưới da diễn ra hầu như toàn thân trong khi đó sự tích mỡ tứ chi không tăng, thậm chí còn giảm bớt. Do đó, ở nữ béo, thân mình to ra, tứ chi teo lại, tạo ra hình thể như người máy gọi là hình thể béo ở hình bụng. Hình thể này khác với nam béo và khác hẳn với nữ không béo.
Béo ở nữ có các ảnh hưởng riêng biệt:
Béo trong thời kỳ phát dục có liên quan đến rối loạn nội tiết. Hầu hết người béo đều có kinh nguyệt khác thường (không có hoặc kinh nguyệt ít), tỷ lệ người béo có kinh nguyệt thất thường khoảng 50%. Nếu bắt đầu béo từ trước thời kỳ phát dục sẽ làm cho tử cung phát triển không tốt, cơ năng buồn trứng không đầy đủ. Do chức năng buồng trứng không đầy đủ mà việc rụng trứng bị rối loạn, (ít, không hay dụng kéo dài). Sợ trở ngại rụng trứng còn do tâm lý tình cảm người béo, do sự ức chế vùng đồi dưới não. Khi giảm được cân thì những rối loạn trên lập tức hoặc dần dần được khôi phục.
Béo cũng có thể làm cho nhu cầu sinh hoạt tình dục giảm, nhưng với tỷ lệ thấp còn lại là do những nguyên nhân khác.