Các giai đoạn của bệnh

Giai đoạn mạn tính (da khô, ráp dày, có vẩy, ngứa), dùng thuốc mỡ có độ “đặc“, độ “thấm” cao hơn.
Giai đoạn bán cấp (ít hoặc không chảy nước), dùng dạng kem (cream) có độ “loãng”. Giai đoạn mạn tính (da khô, ráp dày, có vẩy, ngứa), dùng thuốc mỡ có độ “đặc“, độ “thấm” cao hơn. Các coricoid dùng ngoài có độ mạnh khác nhau, có khi chênh lệch vài chục lần. Điều này lệ thuộc vào chủng loại, nồng độ corticoid trong sản phẩm. Loại có tác dụng nhẹ như, cortison (hydro hay acetat) 0,5-2,5% prednisolon hay methylpredníolon 0,4%. Loại trung bình như hydrocortison butyrat 0,05% dexamethason 0.1%, flumethason pivalat 0,02%. Loại mạnh như bethamethason valerat 0.1%, fluocinolon acetonid 0,025% hancinoid 0,1. Loại cực mạnh như clobetason propionat 0,05%. Tùy theo mức độ nhẹ, trung bình, nặng hay rất nặng mà chọn dùng loại corticoid tương thích. Riêng trường hợp chàm mạn tính phải dùng trong thời gian khá lâu (có thể từ 10 đến 15 tuần). Lúc đầu thường dùng loại có tác dụng mạnh, sau đó dùng loại trung bình, cuối cùng dùng một loại cream hay thuốc mỡ bảo vệ da. Với tất cả các thuốc bôi trên, chỉ nên bôi một lớp mỏng, mỗi ngày chỉ bôi một hai, lần. Khi tổn thương tương ứng với 10-20% diện tích cơ thể hoặc đối với trẻ em thì không được dùng loại thuốc mạnh hay cực mạnh.
Ngay cả khi dùng thuốc bôi cũng cần lưu ý đến độ độc của corticoid. Một trong những độc tính đó là giảm sức đề kháng của da, làm cho da dễ bội nhiễm, gây teo da. Teo da nhẹ thì có thể hồi phục nhưng nặng thì không hồi phục được. Teo da ở trung bì sẽ làm cho da mất độ co, dẫn đến giãn mạch máu nhỏ, có thể làm chúng vỡ, tạo thành máu tụ dưới da, để lại trên da các vết sẹo lõm không có sắc tố hay các vết loét. Tai biến này thường xảy ra khi dùng coricoid loại mạnh hay cực mạnh kéo dài. Ngoài ra, cũng có thể gây đỏ mặt, sẩn, mụn, mụn mủ, có thể tiến triển thành các triệu chứng như mụn trứng cá đỏ hay mụn trứng cá mủ. Ở những nếp da gấp, có thể bị viêm nang lông hoặc viêm da đỏ do nấm Candida. Do tại các điểm bán thuốc, nhất là các điểm bán thuốc nhỏ thường không đủ các loại theo độ mạnh bậc thang đã nêu trên, nên người bệnh có thứ gì mua dùng thứ ấy, không phân biệt, đôi khi còn tự ý thay đổi đơn mà không hiểu dụng ý của thầy thuốc, vì thế hiệu quả kém có khi còn gây hại.
Thuốc dùng uống
Gồm có thuốc chống ngứa, chống bội nhiễm. Tùy theo người, tùy giai đoạn bệnh mà có khi ngứa ít có khi ngứa nhiều, cũng có khi ngứa đến mức làm mất ăn mất ngủ.

Bệnh nấm chân

Bệnh hay gặp ở người thường xuyên tiếp xúc nước hoặc môi trường ẩm ướt: người làm việc trên ruộng nước, dưới hầm mỏ, vận động viên bơi lội.
Tuy dễ nhận thấy, nhưng những dấu hiệu này cũng làm nhầm sang một số bệnh khác (như vảy nến, chàm thể tạng, nấm tóc, nấm candia, mụn trứng cá). Cần phải khám chuyên khoa da liễu để phân biệt, tránh tự ý sẽ dễ nhầm bệnh, dẫn đến dùng nhầm thuốc.
Thuốc thường dùng ngoài, dưới dạng dầu gội dầu hay dạng bôi trên da, ở nồng độ thấp, ít lần trong tuần nên ít gây hại. Cần chọn lựa kỹ lưỡng tránh dùng nhầm qua dạng có nồng độ cao hơn (chỉ dành dùng cho bệnh khác). Với riêng corticoid cần thận trọng, chỉ được dùng trên vùng mặt viêm tiết bã khi có chỉ định của thầy thuốc da liễu.
Nấm ăn chân chữa như thế nào?
Nhân dân quen gọi là “nước ăn chân”. Thực ra, thủ phạm gây bệnh là các loại nấm Epidermophyton flocosum, Trichophyton, Dermatophylosis đôi khi là Micrsporum, Candia albicans. Bệnh hay gặp ở người thường xuyên tiếp xúc nước hoặc môi trường ẩm ướt: người làm việc trên ruộng nước, dưới hầm mỏ, vận động viên bơi lội, người thường xuyên đi giày kín, người ra nhiều mồ hôi chân. Có nhiều thể. Thể viêm kẽ: ở kẽ ngón chân (hay bắt đầu kẽ giữa ngón thứ ba, thứ tư) với các vết nứt, da trắng bợt, chảy nước hôi hám, rồi lây sang kẽ khác, lan ra mu chân. Thể tróc vảy khô: ở cạnh, lòng bàn chân, gót chân có những mảng nhỏ hay lớn, da dày, màu đỏ, bên trên phủ đầy vảy. Thể mụn nước: ở rìa, lòng bàn chân nổi những đám mụn nước sâu, nhỏ bằng đầu ghim, liên kết với nhau thành bong bóng nước lớn. Thể nào cũng có ngứa (nhẹ hay dữ dội) có khi kèm theo viêm bạch mạch, viêm tĩnh mạch, kèm theo nhiễm khuẩn (gây lở loét). Bệnh thường dai dẳng, hay tái phát. Có thể dùng một số thuốc dưới đây:
Thuốc dùng tại chỗ:
Mỡ kẽm oxit, hồ Brocp, dung dịch BSI, Jarisch. Hay dùng nhất là dung dịch BSI (thành phần có có acid benzoic, acid salicylic, iod).
Các mỡ, cream chứa chất kháng nấm ketoconazol (bd: nisoral) hay ticonazol (bd: trosyd) cần phải: Lau sạch, làm khô chỗ thương tổn mới bôi. Mỗi lần bôi từng ít một, thành lớp mỏng, mỗi ngày 3-4 lần. Thời gian bôi kéo dài hàng tháng.
Các loại thuốc bôi thảo dược: Dùng lá trầu không hoặc búp ổi vò nát, xát nhẹ hoặc nấu nước kim ngân đặc, ngâm chân, lau khô rồi rắc bột hàn the vào chỗ tổn thương.
Dung dịch sát khuẩn: Dung dịch thuốc tím (KMn04) l%0 ngâm chân.
Thuốc uống:
Các kháng sinh kháng nấm có phổ rộng: Intraconazol (bd:sporal), ketoconazol (bd: nizoral). Thường dùng kéo dài 3-4 tháng. Ví dụ: với spo- ral viên 200mg, đợt đầu dùng 21 ngày, mỗi ngày 2 viên, đến tháng thứ hai, thứ ba mỗi tháng chỉ dùng vào một tuần đầu tháng theo liều trên.

Thuốc kháng viêm

Thường dùng mỡ tacrolimus, cream pime- crolimus. Hai thuốc này dược dùng trong viêm tiết bã ở mặt và vùng tai.
Dầu gội chứa corticoid: Thường dùng dầu gội chứa fluoroquinolon.
Cream bôi tại chỗ: Dùng các loại cream chứa các chất fluocinolon, betamethason, desosid nhưng hay dùng nhất là denosid. Desonid là một toại corticoid không có fluor (hydroxyprednisolon acetonid) có hoạt tính chống viêm, chống ngứa và ức chế quá trình sinh tổng hợp ở biểu bì và bì rất mạnh. Dùng trong viêm da tiết bã (và một vài bệnh khác như eczema do tiếp xúc, viêm bi không điển hình, liken hóa). Trong viêm da tiết bã thường dùng ở nồng độ thấp (0,05%).
Chất ức chế calcineurin: Thường dùng mỡ tacrolimus, cream pime- crolimus. Hai thuốc này dược dùng trong viêm tiết bã ở mặt và vùng tai. Chỉ dùng dưới dạng thuốc bôi (phân biệt với tacrolimus dạng thuốc uống hay truyền tĩnh mạch khi dùng chống thải loại trong ghép thận).
Thuốc chống nấm:
Dầu gội chứa ketoconazol (mỗi tuần dùng 3 lần cho viêm tiết bã da dầu), cream (dạng gel) ketoconazol (mỗi ngày một lần cho viêm tiết bã da mặt).
Dầu gội selenium sulfid: Có tính kháng nấm phổ hẹp. Dùng cho viêm tiết bã da đầu (và bệnh khác như lang ben) với dịch treo có nồng độ thấp 2-3%. Cách dùng: dùng nước nóng thấm ướt tóc. Lắc kỹ dịch treo và đổ vào lòng bàn tay 1-2 thìa caffe dịch treo, xát nhẹ vào da đầu (không làm dây vào mắt). Để 2-3 phút, rồi gội đầu bằng nước sạch. Làm lại như trên một lần nữa. Dùng 2-3 lần như thế mỗi tuần.
Chất tiêu sừng:
Dầu gội chứa acid salicylic: Làm tiêu lớp sừng trên da. Mỗi tuần 2- 3 lần.
Dầu gộl pyrithion-zine: Là dẫn xuất của mercapto-pyridin. Vừa làm tiêu lớp sừng chống tăng tiết bã nhờn, vừa chống nấm. Dùng dưới dạng dầu gội 1,7% cho viêm da dầu tiết bã nhờn hay dạng nhũ tương 0,5% cho da tiết bã nhờn. Mỗi tuần 2-3 lần.
Một vài chú ý chung:
Viêm da tiết bã có một số dấu hiệu: ở thanh thiếu niên, người lớn: bắt đầu bằng những vảy mỡ nhờn ở da đầu kèm nổi hồng ban và đóng vảy ở vùng rãnh môi-mũi hoặc vùng da sau tai. Cũng có ở vùng khác như vùng lông mày, vùng râu mọc, vùng dưới vú, chỗ nếp gấp vùng thân, trên ngực, có khi giữa mặt. Có dạng hình cánh hoa, kèm theo có sần nang lông và quanh nang lông màu đỏ nâu. Có dạng hình vảy phấn, thành từng dát và mảng khắp người như vảy phấn hồng, ở trẻ nhỏ, vùng đỉnh đầu sẽ có đóng vảy nhờn như mỡ nhưng không gây ngứa, không gây nứt, rịn nước (như viêm da cấp), vảy có màu trắng, trắng xám hay vàng, hay xuất hiện vào tuần thứ ba, thứ tư sau sinh.

Khi mụn trứng cá quá nặng

Tùy theo thuốc và thể mụn có thể dùng một đợt 2-3 tháng hay 6 tháng, có khi phải dùng nhiều đợt.
Trong trường hợp MTC sẩn nặng hay MTC cục có thể dùng kháng sinh uống doxicyclin hay minocyclin kết hợp với một trong các thuốc làm ly giải nhân (tretionin, adapalen, tazaroten). Dùng quá nhiều (4-5 loại) sẽ khó chịu, khó tuân thủ liệu trình.
Thời gian dùng thuốc thường kéo dài, cần kiên trì theo đúng liệu trình: Tùy theo thuốc và thể mụn có thể dùng một đợt 2-3 tháng hay 6 tháng, có khi phải dùng nhiều đợt. Dù theo liệu trình nào, sau 6-8 tuần phải tái khám, nếu không có đáp ứng, thầy thuốc sẽ có cách xử lý. Không nên nôn nóng tự ý tăng liều, đổi thuốc.
Một số thuốc có độc, có tương tác bất lợi, phải tuân thủ các qui định dùng: Thí dụ: isotretionin có thể gây quái thai nên phải thử chắc chắn không có thai mới dùng, phải dùng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong khi dùng. Sau khi ngừng dùng ít nhất là một tháng mới được có thai. Không dùng chung với mynocyclin, limecyclin (vì gây tăng áp lực nội sọ). Cẩn trọng với clindamycin. Không dùng tazaroten cho người có thai.
Nguyên nhân MTC không phải do mất vệ sinh. Rửa nhẹ làm giảm bã và vi khuẩn, làm cho da sạch, thoáng sẽ có lợi nhưng chà xát mạnh (với hy vọng làm sạch nhân đen, khỏi mụn) sẽ làm trầy trợt da, có hại. Không có bằng chứng cải thiện chế độ ăn đem lại lợi ích: Không cần thiết phải có chế độ ăn kiêng (các loại gia vị).
Viêm da tiết bã, dùng thuốc gì?
Viêm da tiết bã là một bệnh lý cần dùng thuốc chứ không phải là tình trạng da nhờn do tuyến bã tiết nhiều chỉ khắc phục tạm thời bằng mỹ phẩm.
Nguyên nhân chưa hoàn toàn sáng tỏ song có nhiều giả thiết có tính thuyết phục:
Do thiếu, rối loạn hormon: Bằng chứng: trẻ dưới 3 tháng mắc nhiều, giảm nhanh khi một tuổi, chậm hơn trong 4 tuổi tiếp theo, rồi hết hẳn, sau đó xảy ra rầm rộ ở tuổi trưởng thành, có tỷ lệ cao ở người lớn tuổi.
Do nấm: Bằng chứng: ở nơi có chủng nấm Malssezia tăng sinh mạnh thì ở đó có viêm da tiết bã và dùng kháng nấm chống lại sự tăng sinh này thì bệnh được cải thiện.
Do suy giảm miễn dịch: Bằng chứng: Một số bệnh làm suy giảm miễn dịch ở trẻ nhỏ hay suy giảm miễn dịch do AIDS làm cho bệnh dễ xuất hiện.
Do nguồn gốc thần kinh: Bằng chứng: Tìm thấy một số mối liên hệ giữa viêm da tiết bã với bệnh Parkinson, động kinh, các rối loạn thần kinh khác, hoặc bệnh xuất hiện đi đôi với stress, mất ngủ. Nhưng chưa tìm thấy chất dẫn truyền thần kinh.
Thuốc điều trị viêm da tuyến bã hướng vào việc chống lại các nguyên nhân trên.

Các loại thuốc để trị MTC

Loại uống: Isotretionin (bd: acutane, roacutane). Thuốc làm giảm tiết bã nhờn, dự phòng keratin hóa, làm giảm tạo thành nhân trứng cá.
Dùng điều trị MTC đỏ. Lúc mới dùng, tretionin gây kích ứng (ban đỏ, tróc vảy da, khô da, rát nhẹ, phát triển các mụn nhỏ). Vì thế, người bệnh có cảm giác bệnh nặng thêm, tự ý ngừng thuốc. Đúng ra chỉ cần làm ẩm da đơn thuần, các hiện tượng trên sẽ giảm. Adapalen, tazaroten chỉ kích ứng da nhẹ.
Loại uống: Isotretionin (bd: acutane, roacutane).
Thuốc làm giảm tiết bã nhờn, dự phòng keratin hóa, làm giảm tạo thành nhân trứng cá; giảm oxid nitric và yếu tố hoại tử u alpha liên hệ tới viêm. Một cơ chế làm giảm viêm khác là làm thay đổi môi trường nên làm giảm quần chủng gây mụn P. acnes. Dùng cho thể MTC trầm trọng (nang cục và kết mảng).
Thuốc có thể gây quái thai; gây trầm cảm (xuất hiện ý muốn tự tử); gây độc tính cấp về gan; gây hủy chất khoáng xương, làm giảm mật độ xương, đóng sớm đầu xương; gây viêm da, viêm niêm mạc môi, kết mạc, khô mát, khô màng niêm mạc miệng họng mũi, chảy máu cam, ngứa; gây chán ăn buồn nôn. Có thể gây tăng áp lực nội sọ (làm nhức đầu, rối loạn thị giác lúc hoàng hôn).
Liều thấp ít đáp ứng, dùng kéo dài hay có tác dụng phụ. Thường dùng liều thích hợp là 0,5- lmg/kg/ngày (chia làm 2 lần) trong 15-20 tuần, phần lớn dùng một đợt 6 tháng, ít khi tới 12 tháng; nếu cần có thể dùng thêm đợt thứ hai nhưng phải cách đợt đầu ít nhất là 2 tháng. Có thể kết hợp thuốc uống với thuốc dùng ngoài (gel isotretionin 0,05% hay cream acid retionic 0,05%).
Các hormon: Dùng hormon kháng lại hormon nam testosteron nhằm giảm tiết chất bã. Tổng quát: dùng progesteron và promestrien. Riêng nữ có thể dùng kháng androgen. Nữ trẻ tuổi có thể dùng estrogen với liều 30- 50 microgam/ngày (thực tế dùng thuốc tránh thai chứa estrogen). Liệu pháp này chỉ dùng cho người bị mụn chắc chắn là do rối loạn hormon. Liệu pháp này có hiệu quả thấp không tương xứng với dự tính lý thuyết.
Một vài chú ý chung về cách dùng.
MTC là bệnh lành tính nhưng có ảnh hưởng về thẩm mỹ. Cần coi trọng đúng mức, điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. Không nên coi thường, tự ý dùng thuốc, đặc biệt là tự ý dùng mỹ phẩm.
Người bệnh quá lo lắng về thẩm mỹ thường đánh giá độ nặng cao hơn thực tế, tự ý dùng các loại thuốc mạnh hơn. Không có lợi, vì các loại thuốc mạnh thường kèm theo nhiều tác dụng phụ.
Không nên dùng quá nhiều loại, nếu cần chỉ nên phối hợp hai hay nhiều nhất là ba loại thuốc. Thí dụ: Trong trường hợp MTC sẩn mủ nhẹ chỉ cần bôi benzoyl peroxid, cần thiết thì có thể phối hợp với erythromycin hoặc clindamycin bôi.

Thuốc và cách dùng

Thuốc làm tróc vẩy da, (khô, bong da) giảm hình thành nhân trứng cá. Dùng cho MTC thông thường hay có sẩn mủ nhẹ.
Dùng thuốc chống lại các yếu tố hình thành mụn và thương tổn:
Các thuốc kháng viêm nhiễm: Kháng P.acnes. Cũng do kháng P.acnes mà khống chế sự phân giải lipid ra acid tự do của bã làm giảm viêm.
Khi mụn nhẹ thì chỉ nên dùng thuốc chống viêm nhiễm dùng ngoài:
Benzoyl peroxid (bd: benzac, eclaran, oxy-5, oxy-10). Thuốc làm tróc vẩy da, (khô, bong da) giảm hình thành nhân trứng cá. Dùng cho MTC thông thường hay có sẩn mủ nhẹ. Gây kích ứng da, giảm thiểu bằng cách dùng nồng độ thấp (dưới 9%). Khi dùng thuốc không được tiếp xúc với ánh nắng, tia tử ngoại, oxy già. Nếu có cảm giác nóng, rát đỏ da phải ngừng ngay.
Erythromycin (bd: eryfluid, erygel, erythomycin & nghệ): Dùng cho MTC có mủ, MTC đỏ. Loại biệt dược phối hợp thêm dịch chiết nghệ có tính kháng viêm, làm cho các tổn thương chóng lên da non, đỡ sẹo, không để lại sẹo lồi làm đẹp da, chống nám (do chất curcumin, curcumon, turmeron, turmerin).
Clindamycin (bd: dalacine T): Dùng cho MTC thể viêm, thể có mũ. Thận trọng với người có thai, cho con bú. Erythromycin, Clindamycin bị P. acnes kháng với tỷ lệ cao, chỉ có hiệu quả tốt khi phối hợp với benzoyl peroxid.
Thuốc dùng ngoài chỉ ngăn ngừa chứ không làm teo nhỏ lại các tổn thương. Do đó cần bôi rộng ra các vùng da có thể bị bệnh, chứ không phải chỉ bôi ở những tổn thương trông thấy được. Khi dùng các thuốc trên phải rửa sạch, chờ khô da mới bôi. Không làm dây thuốc ra các vùng nhạy cảm như mắt, mi mắt, môi, niêm mạc, nếu lỡ bị dây phải rửa ngay bằng nước sạch nhiều lần.
Khi mụn vừa hay nặng, mụn lan tràn ở lưng, ngực, vai hay có tổn thương, viêm thì nên dùng thuốc chống viêm nhiễm dạng uống:
Doxicyclin, minocyclin: Dùng cho thể MTC thông thường. Làm tăng tính nhạy cảm của da với ánh nắng, thường dùng liều thấp hơn liều trong các bệnh nhiễm khuẩn khác (doxicyclin l00mg/ngày, minocyclin 20 – 50mg/ngày) trong thời gian ngắn (14 ngày), tránh kéo dài. Không ra nắng khi dùng thuốc.
Erythromycin: Dùng cho MTC mủ, MTC đỏ.
Clindamycin: Dùng cho MTC thể viêm,có mủ.
Doxicyclin, minocyclin ít bị kháng hơn erythromycin, clindamycin. Với liều điều trị có thể dùng hàng tháng vẫn an toàn. Nên phối hợp các kháng sinh để chống sự kháng thuốc của P.acnes.
Thuốc giảm sừng hóa, giảm tiết chất bã:
Khi dùng thuốc chống viêm nhiễm bôi và uống không khỏi mới dùng các thuốc chống tăng tiết bã nhờn, chống quá trình keratin hóa như:
Loại dùng ngoài: Tretionin, adapalen, tazaroten.
Các thuốc này làm giảm quá trình keratin hóa phần dưới nang lông và tuyến bã, ức chế việc hình thành nhân trứng cá, nếu dùng đều đặn sẽ xóa được nhân MTC thể nặng trong vòng vài tháng.

Dùng vitamin như thế nào thì tốt?

Betacaroten, selenium… như nói trên sẽ chống lão hóa trong đó có chống lão hóa da nên có thể coi là thuốc làm đẹp da.
Dùng đúng liều thì không có hại, có thể dùng kéo dài: chẳng hạn với người trên 35 tuổi, người cao tuổi, người bị bệnh tiểu đường, tim mạch. Tuy nhiên, tùy theo mục đích và điều kiện kinh tế có trường hợp chỉ cần dùng trong thời gian ngắn: chẳng hạn dùng để tăng sức bền, chống các tổn thương gan tụy, dùng trước sau mổ. Chất chống GTD dùng để chống lão hóa, hỗ trợ trong phòng chống bệnh và không thay cho các thuốc đặc hiệu. Hiểu tiềm năng, giới hạn này sẽ dùng chúng hiệu quả hơn, tránh sự ngộ nhận, nhầm lẫn.
Riêng đối với da khi uống vitamin C, E.
Betacaroten, selenium… như nói trên sẽ chống lão hóa trong đó có chống lão hóa da nên có thể coi là thuốc làm đẹp da. Tuy nhiên, nếu dùng chúng dưới dạng kem dùng ngoài thì hiệu quả rất kém.
Các bệnh da, niêm mạc, móng, cách phòng chữa.
Nếu coi thường không chữa, chữa không đúng cách, các bệnh da, niêm mạc, móng… sẽ tàn phá sắc đẹp nghiêm trọng mà mọi sự trang điểm tốn kém, mất công sức, khéo léo đến mấy cũng không thể che lấp, bù đắp được.
Mụn trứng cá và thuốc trị mụn.
Mụn trứng cá (MTC) là bệnh ngoài da lành tính cần dùng thuốc theo chỉ dẫn. Coi thường, không điều trị, nôn nóng điều trị không đúng cách đều nguy hiểm.
Một vài điểm về mụn trứng cá.
Có ba yếu tố bệnh lý chủ yếu ở nang lông hình thành MTC: sự gia tăng quá trình keratin hóa, tăng tiết ứ đọng chất bã, nhiễm khuẩn. Bã tạo ra nhân trứng cá, đồng thời acid béo tự do của bã (chuỗi từ 8-12 carbon) gây viêm. Vi khuẩn Propionilbaterium acnes với số lượng lớn (114.888 P.acnes/cm2 da) có chứa enzym lipase làm phân hủy lipid của chất bã, giải phóng acid béo tự do, gây viêm. Như vậy quá trình viêm có sự kết hợp giữa yếu tố tăng tiết chất bã và nhiễm khuẩn MTC tạo ra loại thương tổn không viêm là nhân trứng cá (commedone). Nhân trứng cá hở là những kén bã, vít chặt lấy các lỗ chân lông bị giãn rộng, đầu nhân có màu đen (do ker- tin bị oxy hóa) tạo nên những “đốm đen”. Nhân trứng cá kín là những “sẩn nhỏ, màu nhợt nhạt” không nhìn thấy được lỗ chân lông bị giãn rộng, hơi cao hơn mặt da, thường gây ra các viêm nhiễm rộng. Đồng thời MTC còn tạo ra loại thương tổn có viêm nhiễm ở trung bì với những hình thái khác nhau tùy theo thể mụn: sẩn nhỏ có quầng viêm đỏ xung quanh (thể sẩn), hoặc có mủ (thể sẩn có mủ nông), u cục (thể cục-mụn mủ), nang to đau, lùng nhùng (thể viêm tấy).

Kỹ thuật tương tự như điện chuyển ion vitamin

Các chất chống gốc tự do (GTD) tạo thành mạng lưới, kích hoạt lẫn nhau nên cần dùng chúng dưới dạng phối hợp.
Những phát hiện mới trên về vitamin E làm cho người ta xem xét và thận trọng hơn khi dùng chúng trong một số bệnh, đồng thời cảnh báo việc dùng vitamin E liều cao trong nhiều trường hợp là không có lợi.
Những điều cần biết chung về cách dùng chất chống lão hóa làm đẹp da.
Khi dùng các Vitamin A, E, C, betacaroten, selenium để chống lại GTD, chống lão hóa, làm đẹp cần chú ý mấy điểm:
Các chất chống gốc tự do (GTD) tạo thành mạng lưới, kích hoạt lẫn nhau nên cần dùng chúng dưới dạng phối hợp. Công thức thường dùng hiện nay là phối hợp 4 chất : Betacaroten (15mg), vitamin E (400 IU), vitamin C (500 mg), selenium (50 mcg). Công thức tối ưu được đề nghị gồm 4 chất acid alphalipoic (50-100 mg), vitamin C (500-1000 mg), Vitamin E (400 IU), Coenzym Q10 ( 30-50 mg).
Hàm lượng các chất phải cao (như trên) mới chống được GTD. Những sản phẩm có chứa các chất trên nhưng hàm lượng thấp chỉ có ý nghĩa bổ sung Vitamin và vi chất giúp cho quá trình chuyển hóa. Khi cần tăng cường quá trình chuyển hóa chỉ nên dùng các biệt dược chứa Vitamin muối khoáng vi lượng (bd: pharmaton, polivitamin…) nhưng khi cần chống GTD thì dùng hỗn hợp các chất chống GTD với hàm lượng cao (bd: Vivace, Belaf…). Cần xác định rõ mục đích khi chọn thuốc, tránh nhầm lẫn.
Dạng của chất chống GTD quyết định hiệu lực, độc tính. Tuy có nhiều trong rau xanh nhưng betacaroten dễ nhạy cảm với oxy, bị mất đi một phần khi nấu nướng, lại là chất tan trong dầu nên khó hấp thu; trong thuốc thường dùng dưới dạng hỗn dịch. Selenium dưới dạng hữu cơ trong thực phẩm tốt hơn, ít độc hơn dạng vô cơ, dễ bị mất khi nhiệt độ cao, khó kiểm soát, dùng liều thấp không có hiệu lực, dùng liều cao độc; trong thuốc, thường dùng dạng men khô có hàm lượng selenium ổn định. Khi mua các sản phẩm chống GTD cần xem kỹ thành phần có đúng các dạng đó không?
Dùng quá liều chất chống GTD là có hại. Ví dụ: dùng thừa selenium sẽ bị rụng lông, tóc, mỏng. Dùng quá liều cho người có thai càng hại hơn.
Ví dụ: người ta đã dùng Vitamin C liều 1000 mg kết hợp với vitamin E liều 400 IU với hy vọng ngăn ngừa tiền sản giật nhưng không đạt được mong muốn này mà còn làm tăng tỷ lệ trẻ sinh ra có khối lượng thấp. Do vậy chỉ được dùng chất chống GTD trong liều lượng cho phép.
Các nhà khoa học xem chất chống GTD như là một loại thức ăn bổ dưỡng hơn là thuốc.

Vitamin E không tốt như người ta nghĩ

Vitamin E không tốt như người ta nghĩ, Một nghiên cứu khác nhằm đánh giá vitamin E
Kết quả đưa lại không như mong đợi: Vitamin E và vitamin C không ngăn ngừa tiền sản giật ở người có thai có nguy cơ nhưng lại làm cho trẻ sinh ra khối lượng thấp.
Tương tự cũng có nhận xét liều cao hơn nữa (2000 IU mồi ngày) trong điều trị Parkinson hay Alzheimer thì nguy cơ tử vong tăng tới 20%. Như vậy dùng liều cao vitamin E là không có lợi.
Một nghiên cứu so sánh giữa việc dùng vitamin E liều cao (2000 IU mỗi ngày) thuốc chữa trị Alzheimer donepezil (10 mg mỗi ngày) và giả dược trên người bệnh rối loạn nhận thức nhẹ (trạng thái chuyển tiếp giữa những thay đổi nhận thức do quá trình lão hóa bình thường và giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer) nhận thấy: vitamin E không có hiệu quả trong rối loạn nhận thức nhẹ không làm giảm tiến triển sang bệnh Alzheimer so với giả dược; donepezil có làm giảm sự tiến triển sang bệnh Alzheimer nhưng cũng chỉ hạn chế trong 3 năm đầu (NE JM 2005;352:2379-2388). Từ nghiên cứu này có thể coi việc dùng vitamin E liều cao trong giai đoạn đầu Alzheimer là không cần thiết mặc dù trước đó căn cứ theo tính chất chống GTD người ta giả định và hy vọng đến kết cục tốt đẹp của vitamin E.
Một nghiên cứu khác nhằm đánh giá vitamin E (liều 400 IU mỗi ngày và vitamin C (liều 1000 mg mỗi ngày) đối với việc ngăn ngừa tiền sản giật. Kết quả đưa lại không như mong đợi: Vitamin E và vitamin C không ngăn ngừa tiền sản giật ở người có thai có nguy cơ nhưng lại làm cho trẻ sinh ra khối lượng thấp (Lancet Early Online Publication, 30 March 2006). Như vậy theo nghiên cứu này thì dùng các vitamin chống oxy hóa E và C trong thai kỳ là không có lợi.
Tác dụng hữu ích của Vitamin E được trình bày trên là ở dạng uống. Vitamin E tan được trong lipid nên khi chế thành dạng cream, mỡ dùng ngoài cũng có thể có một phần thấm sâu vào bên trong và có thể có một số tác dụng như dạng uống nhưng rất hạn chế. Dựa vào tính chất chống GTD của Vitamin E dạng uống, các hãng mỹ phẩm quảng cáo quá mức về hiệu quả của các loại mỹ phẩm chứa vitamin E dùng ngoài, cần xem xét đúng mức các quảng cáo này.
Gần đây, kỹ thuật mới chuyển vitamin E vào da là kỹ thuật điện chuyển ion (ionphotoresis) hay gọi là phương pháp điện di ion viotaliont để tạo ra nồng độ vitamin E cao dưới da nhằm làm chậm quá trình lão hóa da mặt, làm đẹp da, phòng ngừa ung thư da, đề phòng rất hiệu quả việc đỏ da khi ra nắng, sau lột da mặt, sau chiếu tia laser. Phương pháp này cũng do Bs Harue Suzuki Giám đốc thẩm mỹ viện Suzuki và Giáo sư Nobuhiko Miwa, khoa Nghiên cứu sinh Đại học Hiroshima nghiên cứu thành công dựa vào dùng năm 2002.

Tác dụng phụ của vitamin E

Song từ nghiên cứu này, Hội y học Mỹ cũng đưa ra lời khuyên “không nên dùng vitamin E cho người tiểu đường” (Theo FIP New 4.2005).
Dạ dày thực quản, ngăn cản được sự biến đổi ni- trit thành nitrosamin, một tác nhân gây ung thư.
Theo thuyết phân chia tế bào thì tế bào phân chia đến một mức nào đó sẽ không thể phân chia được nữa và chết. Nhưng theo một thuyết khác thì sự già hóa là do tác dụng bất lợi của GTD và sự suy giảm khả năng miễn dịch. Người ta làm thí nghiệm và nhận thấy vitamin E làm tăng tuổi thọ cho chuột. Người ta cũng thống kê thấy có 80 bệnh có liên quan đến GTD có 100 loại hóa chất tích tụ trong mỡ làm suy giảm khả năng miễn dịch. Vitamin E với cơ chế chống lại GTD và tăng cường khả năng miễn dịch sẽ giúp cơ thể chống lại được bệnh tật, tăng tuổi thọ.
Một điều cần biết thêm là Vitamin E khá lành tính. Bình thường cần 15 mg/ngày, khi cần phòng bệnh tim mạch, ung thư hay cho người nghiện thuốc lá có thể dùng tới 100 mg/ngày, người bị bệnh Alzheimer có thể dùng hàng ngàn mg ngày, thực tế đã dùng 2000 mg/ngày, kéo dài mà không thấy xuất hiện triệu chứng độc hại. Cần lưu ý rằng vitamin E thiên nhiên tốt hơn vitamin E tổng hợp. Vitamin E tổng hợp có 8 đồng phân của tocopherol (gọi chung là D-alphatocopherol). Theo quy ước quốc tế 1 mg vitamin E thiên nhiên bằng 1,49 IU, còn 1 mg E tổng hợp bằng 1 IU vitamin E. Căn cứ vào đó để tính toán quy đổi khi bổ sung.
Mười năm trở lại đây các nhà khoa học đã sớm nhất trí với nhau về việc bổ sung vitamin E để chống bệnh tật và tăng tuổi thọ. Chỉ riêng điều này thôi cũng chứng tỏ lợi ích của việc bổ sung vitamin E.
Gần đây có một số nghiên cứu về vitamin E và đưa ra một số cảnh báo:
Khi nghiên cứu khảo sát hậu quả lâu dài, chọn ngẫu nhiên giữa nhóm người bệnh dùng thuốc bổ sung vitamin E liều cao và nhóm người bệnh dùng giả dược, cho thấy việc dùng vitamin E liều cao làm tăng nguy cơ bệnh suy tim. Tử vong tim mạch của người già, người bị tiểu đường lệ thuộc vào nhiều yếu tố, khó có thể có nghiên cứu loại trừ để quy ra cho vitamin E. Song từ nghiên cứu này, Hội y học Mỹ cũng đưa ra lời khuyên “không nên dùng vitamin E cho người tiểu đường” (Theo FIP New 4.2005).
Một nghiên cứu tử vong tim mạch so sánh giữa 10.000 người bệnh dùng vitamin E (600 IU ngày) và 10.000 người dùng giả dược thấy tỷ lệ tử vong ở nhóm người dùng vitamin E liều cao tăng lên 10% do ở nhóm này nguy cơ suy tim bị tăng lên.