Tác hại của nấm tóc

Nếu không tích cực điều trị bệnh có thể lan ra toàn đầu, gây hói, để lại sẹo.
Thuốc cũng có thể gây một số phản ứng phụ quan trọng khác như ứ mật trong gan, viêm gan; giảm bạch cầu trung tính; thiếu máu nhược sắc nhưng không đến mức trầm trọng. Cần theo dõi cẩn thận có thể định kỳ kiểm tra các chỉ số chức năng gan mật, các chỉ số huyết học hoặc phát hiện các triệu chứng lâm sàng. Bên cạnh dùng thuốc uống cần kết hợp dùng thuốc bôi mỡ griscopulvin 5% hay các thuốc chống nấm đơn giản khác như BSI.
Với loại nấm tóc gây rụng tóc khu trú nhưng không để lại sẹo:
Loại này do nấm Achorion schoeleini gây ra. Biểu hiện: Da đầu có những chấm nhỏ màu vàng đỏ, thương tổn phát triển thành vảy màu vàng diêm sinh, có hình đĩa lõm đặc biệt. Khi cạo vảy sẽ thấy da bên dưới hơi lõm, bạc màu. Nếu không tích cực điều trị bệnh có thể lan ra toàn đầu, gây hói, để lại sẹo.
Được điều trị bằng thuốc uống griseopulvin liều mỗi ngày người lớn 1000mg (ứng với 4 viên 250mg), trẻ em 10mg/kg thể trọng, kéo dài 1-2 tháng. Cách dùng griseopulvin uống như đã nói trên. Kết hợp dùng thuốc bôi chổng nám BS1, antimyccose hay miconazol. Cần cắt tóc ngắn trước và sau khi dùng thuốc, nhằm tránh nấm ký sinh ở phần xa tóc.
Trẻ em, người lớn đều có thể bị nấm tóc nhưng trẻ em thường dễ bị mắc hơn. Có tác giả khuyên khi bị nấm Achorion schoeleini nên nghỉ học để tránh lây lan và chỉ đi học lại sau 2 lần cấy nấm cách nhau 15 ngày thấy âm tính.
Điều trị nấm tóc không khó nhưng cần kiên trì.
Bệnh vẩy nến ít ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng kém thẩm mỹ.
Bệnh vảy nến thường xuất hiện ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở tuổi đôi mươi nhưng cũng có khi dưới 10 hay trên 50 tuổi. Nam hay nữ đều mắc như nhau. Song, nếu xảy ra ở nữ mang thai, bệnh có thể nặng hơn hay dễ bùng phát đợt mới hơn; thêm nữa ở nữ thường mặc cảm về thẩm mỹ nhiều hơn, nôn nóng chữa không đúng, có khi làm bệnh nặng thêm.
Biểu hiện bệnh dễ nhận biết. Dù mảng to hay nhỏ đều giống nhau là có vẩy trắng trên nền đỏ, vẩy có nhiều lớp xếp chồng lên nhau, cứ lớp vẩy này bong ra thì lớp khác xuất hiện, có giới hạn rõ, làm thành gờ trên mặt da. Một điểm nữa dễ nhận biết là những tổn thương thường có vị trí đối xứng ở hai bên cơ thể, hiếm khi xảy ra ở da mặt. Ngoài thể vẩy nến thông thường còn có thể bị khác như thể giọt, thể đảo ngược, thể ở lòng bàn chân, thể mủ, thể móng- khớp, thể gây viêm đầu chi liên tục.

Tác dụng phụ của thuốc trị nấm móng

Có một số tác dụng ngoại ý khác: rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, mất một phần hay toàn bộ vị giác) phát ban.
Không dùng thuốc cho người có thai, cho con bú, suy gan thận nặng, trẻ em dưới 16 tuổi. Khi suy gan, thận nhẹ có thể dùng nhưng cần giảm liều.
Có một số tác dụng ngoại ý khác: rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, mất một phần hay toàn bộ vị giác) phát ban, mày đay, có một số phản ứng da (triệu chứng Stevens – Johnson, hội chứng Lyell).
Khi bệnh còn nhẹ, cần điều trị ngay chỉ dùng thuốc bôi, không mấy khi gây hại, dễ khỏi. Để bệnh chuyển sang nặng phải dùng thuốc uống, chịu nhiều tai biến hơn, khó đạt hiệu quả. Chữa nấm móng phải kiên trì.
Nấm tóc: dùng thuốc chứ không thể dùng dầu gội thông thường.
Có người bị nấm tóc, rụng tóc nhưng không biết, thường dùng các loại thuốc bôi chống nhiễm khuẩn hay dùng dầu gội. Đúng ra phải dùng thuốc đặc trị với các loại nấm tóc khác nhau.
Với loại nấm tóc gây rụng tóc khu trú không để lại sẹo:
Loại này do nấm Microsporum hoặc Trichophyton gây ra.
Nếu do Microsporum thì mảng tóc rụng có giới hạn, da đầu có vẩy trắng xám, tóc xén ngắn đều, có mảng lớn các bào tử nhỏ, tóc bị bệnh sẽ phát quang. Nếu do Trichophyton thì mảng tóc rụng có giới hạn không rõ, da dầu có vẩy tráng đục, tóc bệnh có hình chữ S, Z nằm xen kẽ với tóc lành, có mảng nhỏ bào tử lớn, tóc bị bệnh không phát huỳnh quang.
Chúng đều được điều trị bằng thuốc kháng nấm griseopulvin dạng uống kết hợp với thuốc kháng nấm loại bôi. Griseopulvin là thuốc kháng nấm có phổ hẹp. Chỉ tác dụng trên bệnh nấm móng, nấm kẽ chân kẽ tay, nấm da đầu và nấm tóc. Trong đều trị nấm tóc loại trên thường dùng liều mỗi ngày cho người lớn 500mg đến 750mg (ứng với 2 hay 3 viên 250mg), cho trẻ em 10mg/kg thể trọng, kéo dài 1-2 tháng. Cần uống thuốc sau bữa ăn, chia liều uống trong ngày ra hai lần và uống với nhiều nước. Trong thời gian dùng thuốc không được uống rượu, không dùng thuốc tránh thai (vì thuốc tránh thai làm giảm hiệu lực griscopulvin) thận trọng khi dùng với thuốc chống đông máu (vì griscopulvin làm giảm hiệu lực thuốc chống đông máu) và không dùng với isoniazid (vì griscopulvin làm tăng độc tính isoniazid trên gan). Không dùng thuốc cho người có thai, có porphyrin niệu, bị suy gan thận nặng, đang bị lupus ban đỏ, không nên dùng cho người đang cho con bú. Thuốc có thể gây nhức đầu chóng mặt mất ngủ, rối loạn vị giác, gây cảm giác khát và gây phản ứng ngoài da nhưng nhẹ, người bệnh có thể chịu đựng được.

Bệnh nấm móng

Với nấm móng tay thường uống từ 4- 6- 12 tháng, với nấm móng chân phải uống ít nhất 12 tháng.
Nếu nấm đã ăn toàn bộ móng, thuốc bôi không có hiệu quả thì cần kết hợp với thuốc uống.Với nấm móng tay thường uống từ 4- 6- 12 tháng, với nấm móng chân phải uống ít nhất 12 tháng. Có thể kết hợp với việc bóc móng để rút bớt thời gian dùng thuốc xuống 2-3 tháng. Nên bắt đầu uống với các thuốc phổ hẹp như griseopulvin, nếu cần dùng thuốc mạnh hơn terbinafin.
Griseopulvin: Kháng nấm phổ hẹp. Dùng cho nấm móng Trychophy-tum, với nấm ở móng tay dùng 4 – 8 tháng, ở móng chân dùng 6 – 12 tháng. Liều người lớn: mỗi ngày 500mg (khi cần có thể tới 1 gam hay hơn), chia thành 2 lần, uống vào các bữa ăn.
Không dùng cho người có thai, suy gan, rối loạn chuyển hóa porphyrin.
Nếu dùng liều cao hơn 1 gam, kéo dài hơn 1 tháng cần theo dõi huyết đồ. Ngay cả khi dùng liều điều trị kéo dài theo liệu trình cũng cần theo dõi định kỳ chức năng gan, thận, hệ tạo máu. Khi dùng thuốc không được phơi da ra nắng (thuốc làm tăng nhạy cảm của ánh sáng với da, gây sạm). Thận trọng với người nhạy cảm với penicilin, người nuôi con bú. Ngưng thuốc nếu xảy ra mất bạch cầu hạt.
Khi dùng griseopulvin không được dùng thuốc lá, dùng rượu thuốc tránh thai, thuốc chống đông máu, thuốc ngủ barbuturic (vì có tác dụng đối kháng).
Có thể có một số tác dụng ngoại ý: đen miệng, khó chịu ở dạ dày ruột, nhức đầu, buồn ngủ, lú lẫn viêm thần kinh ngoại biên, nhạy cảm với ánh sáng, giảm bạch cầu, protein niệu, hội chứng giống lupus.
Terbinafin: Chống nấm do ức chế squalen và epoxidase ở màng tế bào nấm. Dùng cho nấm móng Trychophytum. Chỉ uống khi dạng bôi không đáp ứng. Có 3 tai biến khi dùng lâu dài: Giảm bạch cầu (mất bạch cầu hạt, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu toàn dòng). Giảm bạch cầu làm xuất hiện tình trạng nhiễm khuẩn với một số biểu hiện như đau họng, lở miệng, sốt; người bệnh cần báo cáo với thầy thuốc khi có các biểu hiện này và cần được kiểm tra lượng bạch cầu trung tính. Giảm bạch cầu trung tính thường khá nặng, lượng bạch cầu trung tính đôi khi chỉ còn 0-0,9×10/lít. Một báo cáo về tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) của Australia cho biết trong 636 trường hợp báo cáo về ADR có tới 16 trường hợp bị giảm bạch cầu do terbinafin, 7 người bị giảm bạch cầu trung tính, trong đó có 1 người chết do mất bạch cầu hạt sau 2 tháng dùng thuốc, tuy đã điều trị bằng kháng sinh đường tĩnh mạch và yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt (theo Australian ADR Bullein – August 2006). Hai tai biến còn lại là gây độc cho gan, gây phản ứng nặng trên da.

Viêm móng tay

Sự chảy mủ ở vùng da xung quanh móng tay có thể là dấu hiệu bệnh tiểu đường.
Móng tay có gợn sóng có thể chỉ là một chấn thương trong quá khứ nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho biết những bệnh dưới móng hay có thể là một một khối u.
Tiến sĩ RJ Hay bác sĩ da liễu thuộc viện St John Anh vạch ra một mối quan hệ các dấu hiệu ở móng tay và một số bệnh:
Một vệt trắng bắt đầu kéo từ nửa đáy móng trở lên là dấu hiệu nhiễm HỈV.
Những phần bên ngoài của các móng trông như bị sờn mòn là dấu hiệu cho biết đang bị bệnh đường ruột.
Những móng nào bị ăn sạch ở cuối móng sẽ báo trước cho biết bệnh vảy nến.
Sự tàn phá toàn bộ lớp sừng của móng là dấu hiệu bị nhiễm lichen planus.
Lớp sừng của móng trở nên cứng như đá khó cắt là hậu quả của triệu chứng vàng móng.
Lớp sừng trông như bị gặm mòn là dấu hiệu báo cho biết chứng candiosis.
Cố nhiên, khi có các dấu hiệu đó còn phải làm thử nghiệm nữa mới xác định chắc chắn bệnh, nhưng dẫu sao những nhận xét có tính báo hiệu này là để cảnh giác.
Khi bị chấn thương, móng tay có thể bị hỏng. Nếu để thế, cũng có khả năng tạo ra móng mới. Tuy nhiên cần được chăm sóc hỗ trợ nếu không móng sẽ bị dị dạng, không còn vẻ đẹp như trước.
Một bệnh phổ biến đặc biệt ở xứ ẩm như nước ta là bệnh nấm móng tay (đặc biệt ở những người có tiếp xúc thường xuyên với nước như rửa bát đũa). Có 3 loại nhiễm nấm móng hay gặp là nấm Dermatolophyte, Trico-phyton, các men, các loại mốc meo. Cũng có khi bị nhiễm Glomus móng tay, một thứ u dễ kiểm soát nhưng vì hiếm thấy nên thường bị bỏ qua. Glo-mus thường thể hiện với một chấm nhỏ màu xanh nhạt cho biết một khối u nhỏ trong mạch máu. U này lành tính nhưng gây đau.
Nấm móng: có thể chữa khỏi nhưng cần sớm và kiên trì.
Nấm móng thường bắt đầu từ đầu hoặc hai cạnh móng ăn vào. Khi bị nấm, móng không còn vẻ bóng giòn, dày lên, màu bẩn. Trên mặt có rãnh và lỗ nhỏ, phía dưới có bột vụn. Không mấy khi có viêm. Lâu dần móng bị vẹm, phần còn lại xù xì, vàng đục. Bệnh lan từ móng này sang móng kia, kéo dài hàng năm.
Nấm gây bệnh là Tricophyton.
Nếu nhẹ, nấm mới ăn một phần móng chỉ cần dùng thuốc bôi. Dũa cho hết phần móng bị bệnh và phần lành rồi bôi thuốc. Thuốc thường dùng là mỡ griseropulvin 5% (pH khoảng 6) hay cream terbinafin(laminazil) 1%. Phải dùng thuốc khoảng 6 tháng mới khỏi. Thuốc bôi hầu như không có hại.

Không nên gãi lên vết thương

Làm da xây xước, dễ dẫn đến bội nhiễm, có trường hợp làm hỏng cả quá trình điều trị.
Gãi làm cho đỡ ngứa nhưng làm da xây xước, dễ dẫn đến bội nhiễm, có trường hợp làm hỏng cả quá trình điều trị. Có thể uống dung dịch natribromid 2-3%, tiêm dung dịch novocain 1% dưới da, tĩnh mạch. Đơn giản hơn, dùng các kháng histamin thế hệ mới (claritin) không gây ngủ, tiện lợi (vì có thể dùng cả ban ngày) so với thế hệ cũ (chlopheni- ramin) bất tiện (gây ngủ). Tuy nhiên các thuốc thế hệ mới đắt tiền, độ độc
có phần cao hơn. Cần thiết có thể dùng thuốc an thần gây ngủ để chống ngứa về đêm.
Trường hợp bị bội nhiễm vi khuẩn hay nấm, phải khám để biết chính xác loại gây bội nhiễm, dùng kháng sinh thích hợp. Có thể dùng kháng sinh dạng bôi (đã có phối hợp sẵn trong các dạng chế phẩm bôi) hay kháng sinh dạng uống.
Ngoài việc dùng thuốc cần chú ý đến các dị nguyên. Có thể thử bằng cách tách rời từng dị nguyên hay gặp. Nếu thấy bệnh đỡ hơn do tách khỏi dị nguyên nào đó thì cố gắng tránh trong quá trình điều trị cũng như khi đã khỏi.
Biểu hiện thường thấy của chàm là nổi mụn nước, có tiết dịch vàng ngứa. Khi có biểu hiện này, cần khám chuyên khoa da liễu. Khi xác định chắc chắn bị chàm, mới dùng các thuốc nói trên, Không nên lẫn lộn chàm với mụn vì mỗi loại bệnh cần phải dùng các loại thuốc khác nhau. Cũng không nên vì ngứa mà tưởng bị nấm và dùng các thuốc bôi như cồn iod làm bệnh nặng thêm.
Những bệnh tật có thể biểu hiện ở móng tay.
Trong các bệnh tật liên quan đến da liễu thì bệnh móng tay được coi là phổ biến ở người châu Á. Người bệnh ít quan tâm ngoại trừ trường hợp thấy đau hay loạn dưỡng ảnh hưởng đến sức khỏe. Đúng ra cần phải chú ý đến những biểu hiện nhỏ trên móng tay vì cơ thể là điều báo trước cho những căn bệnh tiềm tàng hơn.
Đường sọc đen có thể là hậu quả của những tế bào biểu bì tạo hắc tố tác động lên nền móng tay nhưng chính những sọc này còn có thế là dấu hiệu sớm nhất báo cho biết căn bệnh u ác tính móng tay. U ác tính móng tay còn là những thương tổn biểu hiện bằng những sắc tố hình dạng khối hoặc loang lổ bất thường.
Những sắc tố trên móng tay cũng có khi là do dùng thuốc, do các bệnh về tuyến thượng thận, tuyến giáp hoặc do thiếu vitamin B12.
Khi sắc tố trên móng tay không tiến xa hơn vào phần da thì không có gì nguy hiểm, nhưng có khi sắc tố móng tay gắn liền với các bệnh trên thì phải tìm căn nguyên giải quyết theo chỉ định của thầy thuốc.

Các giai đoạn của bệnh

Giai đoạn mạn tính (da khô, ráp dày, có vẩy, ngứa), dùng thuốc mỡ có độ “đặc“, độ “thấm” cao hơn.
Giai đoạn bán cấp (ít hoặc không chảy nước), dùng dạng kem (cream) có độ “loãng”. Giai đoạn mạn tính (da khô, ráp dày, có vẩy, ngứa), dùng thuốc mỡ có độ “đặc“, độ “thấm” cao hơn. Các coricoid dùng ngoài có độ mạnh khác nhau, có khi chênh lệch vài chục lần. Điều này lệ thuộc vào chủng loại, nồng độ corticoid trong sản phẩm. Loại có tác dụng nhẹ như, cortison (hydro hay acetat) 0,5-2,5% prednisolon hay methylpredníolon 0,4%. Loại trung bình như hydrocortison butyrat 0,05% dexamethason 0.1%, flumethason pivalat 0,02%. Loại mạnh như bethamethason valerat 0.1%, fluocinolon acetonid 0,025% hancinoid 0,1. Loại cực mạnh như clobetason propionat 0,05%. Tùy theo mức độ nhẹ, trung bình, nặng hay rất nặng mà chọn dùng loại corticoid tương thích. Riêng trường hợp chàm mạn tính phải dùng trong thời gian khá lâu (có thể từ 10 đến 15 tuần). Lúc đầu thường dùng loại có tác dụng mạnh, sau đó dùng loại trung bình, cuối cùng dùng một loại cream hay thuốc mỡ bảo vệ da. Với tất cả các thuốc bôi trên, chỉ nên bôi một lớp mỏng, mỗi ngày chỉ bôi một hai, lần. Khi tổn thương tương ứng với 10-20% diện tích cơ thể hoặc đối với trẻ em thì không được dùng loại thuốc mạnh hay cực mạnh.
Ngay cả khi dùng thuốc bôi cũng cần lưu ý đến độ độc của corticoid. Một trong những độc tính đó là giảm sức đề kháng của da, làm cho da dễ bội nhiễm, gây teo da. Teo da nhẹ thì có thể hồi phục nhưng nặng thì không hồi phục được. Teo da ở trung bì sẽ làm cho da mất độ co, dẫn đến giãn mạch máu nhỏ, có thể làm chúng vỡ, tạo thành máu tụ dưới da, để lại trên da các vết sẹo lõm không có sắc tố hay các vết loét. Tai biến này thường xảy ra khi dùng coricoid loại mạnh hay cực mạnh kéo dài. Ngoài ra, cũng có thể gây đỏ mặt, sẩn, mụn, mụn mủ, có thể tiến triển thành các triệu chứng như mụn trứng cá đỏ hay mụn trứng cá mủ. Ở những nếp da gấp, có thể bị viêm nang lông hoặc viêm da đỏ do nấm Candida. Do tại các điểm bán thuốc, nhất là các điểm bán thuốc nhỏ thường không đủ các loại theo độ mạnh bậc thang đã nêu trên, nên người bệnh có thứ gì mua dùng thứ ấy, không phân biệt, đôi khi còn tự ý thay đổi đơn mà không hiểu dụng ý của thầy thuốc, vì thế hiệu quả kém có khi còn gây hại.
Thuốc dùng uống
Gồm có thuốc chống ngứa, chống bội nhiễm. Tùy theo người, tùy giai đoạn bệnh mà có khi ngứa ít có khi ngứa nhiều, cũng có khi ngứa đến mức làm mất ăn mất ngủ.

Cách chữa trị chàm trên da

Bệnh có nhiều thể trạng, trải qua nhiều giai đoạn tiến triển. Thuốc chữa chàm có loại dùng ngoài, có loại dùng trong.
Đến nay thống nhất xác định: Chàm (eczema) là một bệnh dị ứng xuất hiện như một phản ứng viêm ở biểu bì trên một cơ địa riêng biệt, do các dị nguyên gây ra. Các dị nguyên từ môi trường rất khác nhau (dược phẩm, mỹ phẩm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, bụi công nghiệp, đồ dùng sinh hoạt làm bằng nhựa, cao su…). Dị nguyên chỉ gây chàm trên cơ địa dị ứng. Cơ địa này do di truyền hoặc do có sự rối loạn riêng biệt nào đó. Yếu tố thần kinh có vai trò rất quan trọng làm xuất hiện các cảm ứng, đôi khi cảm ứng xuất hiện do chấn thương tâm thần. Bệnh có nhiều thể trạng, trải qua nhiều giai đoạn tiến triển. Thuốc chữa chàm có loại dùng ngoài, có loại dùng trong.
Thuốc dùng ngoài.
Mỗi giai đoạn chàm phải dùng mỗi loại thuốc:
Giai đoạn chàm mới bắt đầu (da mới đỏ, chảy nước ít), dùng loại hồ nước. Khi bôi hồ nước lên da, nước sẽ bốc hơi dần, để lại chất bột chất lỏng có độ nhớt cao, có tính hút nước (glycerin) làm dịu, nên da đỡ bị ngứa.
Giai đoạn chàm bán cấp (da đỏ nhiều, ít hoặc không chảy nước), dùng loại dung dịch như dung dịch muối ăn 0,9%, dung dịch thuốc tím 0,01% hoặc dung dịch Jarish, dung dịch vioform. Nhúng gạc vào một trong các dung dịch trên, đắp nhiều lần lên nơi thương tổn. Không được dùng loại dung dịch có chứa acid boric cho trẻ em.
Trong giai đoạn cấp tính (thường chảy nước màu vàng nhiều) không được dùng thuốc mỡ. Nếu dùng thuốc mỡ, thuốc sẽ ngấm sâu vào da, làm cho nước màu vàng không chảy ra được gây phản ứng mạnh. Trong giai đoạn này không được dùng thuốc mỡ. Lúc nảy nước vàng chảy nhiều, nếu dùng thuốc mỡ thuốc sẽ ngấm sâu vào da, làm cho nước vàng không chảy ra được, gây phản ứng mạnh.
Giai đoạn mạn tính (da khô, ráp dày, cỏ vảy, ngứa) có thể dùng thuốc mỡ. Thuốc mỡ ngày xưa hay dùng là ichthyol hay goudron, nay rất hiếm. Có thể đốt cám, lòng đỏ trứng, chế thêm dầu thành dạng đặc, thay cho hai thuốc trên vẫn tốt.
Các thuốc thông thường nói trên, nếu mua ở cửa hàng không có thì đến phòng khám da liễu sẽ được cấp miễn phí.
Ngoài các thuốc thông thường trên, còn dùng coticoid dùng ngoài.
Ưu điểm của corticoid dùng ngoài là chống được viêm, làm co mạch, chống được ngứa, chống tăng sinh tế bào, không có màu bẩn, bôi lên da không gây cảm giác khó chịu. Tuy nhiên, chúng có nhiều loại, độ mạnh khác nhau hàng chục lần. Nó lại có thể phối hợp với nhiều loại thuốc khác như acid salycilic, goudron, chlorocid, neomycin, gentamycin, tetracyclin.

Quy trình chữa bệnh rộp môi

Người đang có bệnh không làm lây sang người lành bằng cách tiếp xúc (như hôn, dùng chung khăn mặt), bản thân cũng không làm lan rộng bệnh ra vùng khác.
Đây là điều phải cân nhắc.
Song song với việc dùng thuốc cần có chế độ dinh dưỡng làm tăng khả năng đề kháng cơ thể. Trong chế độ ăn cần tránh các loại thức ăn có hàm lượng arginin cao (như dừa, đậu nành, socola, cà rốt…) vì arginin là yếu tố cần để herpes simplex tái sinh. Tuy nhiên không kiêng hoàn toàn (vì arginin cũng rất cần cho việc hấp thu thức ăn phát triển cơ thể).
Cần đề phòng sự lây lan: Người đang có bệnh không làm lây sang người lành bằng cách tiếp xúc (như hôn, dùng chung khăn mặt), bản thân cũng không làm lan rộng bệnh ra vùng khác (tránh sờ lên mắt, không dùng nước miếng làm ướt kính sát tròng, tránh hoặc cẩn thận khi dùng mỹ phẩm hoặc tẩy trang).
Tuy không chữa khỏi vĩnh viễn nhưng nếu tránh làm xuất hiện những điều kiện thuận lợi thì sẽ giảm và có khi không còn tái phát.
Mụn cóc (mụn cơm): chữa không khó nhưng phải cẩn thận.
Do virus nhóm Papova gây ra. Có ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều hơn ở trẻ nhỏ, thanh thiếu niên. Lây do tiếp xúc hay do dùng chung quần áo. Rất nhiều trường hợp không chữa, mụn tự biến đi, không rõ nguyên nhân. Nhưng cũng có khi mụn tồn tại lâu dài, có thể đến hàng chục năm.
Thuốc chữa mụn cóc gồm:
Colomax: Gồm acid lactic, salicylic, polidocanol. Pha thành dạng thuốc dùng ngoài. Không được dùng thuốc này chữa chàm, mụn cóc có lông, mụn cóc ở bộ phận sinh dục hay mụn cóc trên mặt.
Duofilm: Gồm acid lactic, salicylic có nồng độ cao hơn. Không được dùng thuốc này bôi lên mặt, bộ phận sinh dục, vết chai, nốt ruồi, bớt vùng da.
Podophyllum (tên khác pasafilin): Là nhựa của cây Podophyllum peltatum Berberidaceae. Dùng chữa mụn cơm ở gan bàn chân, vùng hậu môn, sinh dục. Phải rất thận trọng vì kích ứng da niêm mạc. Không nên dụng chữa mụn cóc ở mặt, không dùng cho người có thai. Sau khi bôi, chậm nhất là 6 giờ phải rửa sạch.
Acid tricloracetic: Nồng độ thấp, bôi lên mụn cóc ngày chỉ một lần Cần dùng cọ chấm thuốc lên mụn cóc nhưng không làm dây ra vùng xung quanh. Cũng có thể dùng dung dịch thuốc tím nồng độ thấp.
Các phương pháp khác: Đốt điện. Chấm azod, tuyết carbonic. Hủy bằng laser. Thuốc bôi thường là chất ăn da có thể tạo nên các vết loét nhỏ, cứ để cho nó tự lành, không bôi các thuốc khác lên vì có thể gây hại.
Eczema (chàm): có chữa ổn định được không?
Nam hay nữ đều bị chàm nhưng nữ mắc nhiều hơn, được để ý nhiều do ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
Từ năm 1931, Baterman đã mô tả đầy đủ về lâm sàng và qua nhiều tranh cãi.

Các loại thuốc kháng sinh chữa rộp môi

Thuốc chăm sóc tại chỗ gồm: Cream kháng virus acyclovir 5% có tác dụng như loại uống nhưng mức độ thấp hơn.
Bệnh thường nặng (lan rộng, kéo dài, có biến chứng). Trong đa số trường hợp khác, bệnh thường nhẹ có thể tự khỏi trong vài tuần.
Thuốc chữa mụn rộp môi:
Thuốc kháng virus: Chọn một trong 3 loại acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Trường hợp nhẹ hay nặng đều nên dùng vì sẽ làm rút ngắn thời gian bị bệnh, giảm tái phát; trường hợp nặng càng cần phải dùng vì sẻ giảm mức trầm trọng. Dùng càng sớm càng tốt, ngay sau khi có dấu hiệu bị bệnh đầu tiên (ngứa, nóng rát, đỏ). Liều dùng phải cao (mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 400 mg acyclovir). Đợt dùng thường kéo dài 5 ngày. Riêng với người bệnh có nhiễm HIV, đợt dùng tối thiểu 10 ngày, nếu dùng đường uống thì thuốc duy nhất phải chọn là famciclovir. Trường hợp cần (người bệnh không dung nạp, đứng trước nguy cơ diễn biến xấu, kể cả trường hợp nhiễm HIV), có thể dùng acyclovir qua đường truyền tĩnh mạch.
Thuốc giảm đau: Đau không dữ dội, nhưng kéo dài, gây khó chịu nên chọn loại thông thường, ít gây tai biến như paracetamol.
Thuốc chăm sóc tại chỗ: Trường hợp nặng hay nhẹ đều cần dùng. Trường hợp nhẹ có khi chỉ cần dùng thuốc chăm sóc tại chỗ, bệnh vẫn khỏi. Thuốc chăm sóc tại chỗ gồm: Cream kháng virus acyclovir 5% có tác dụng như loại uống nhưng mức độ thấp hơn. Các thuốc chống bội nhiễm (như dung dịch povidin, dung dịch Milian): nhờ chống bội nhiễm, thuốc làm khô nhanh các vết trượt lở và đóng mày. Các loại kem chống nắng bôi môi có chỉ số chống nắng (SPF) khoảng 15. Cream làm giảm đau: xylocain. Ngoài ra, cần súc miệng bằng nước muối, tắm nước ấm hay dung dịch thuốc tím pha loãng. Không nhất thiết phải dùng tất cả mà chỉ chọn loại cần thiết (ví dụ trường hợp nặng đã dùng kháng virus uống hay tiêm thì không cần dùng dạng cream).
Thuốc ngăn ngừa tái phát:
Virus thường có trong cơ thể. Trong đợt bùng phát bệnh, dù có dùng kháng virus cũng không bao giờ loại sạch hoàn toàn, nên không thể chữa khỏi vĩnh viễn, có thể tái phát khi có điều kiện. Chỉ dùng thuốc ngừa tái phát thường xuyên, lâu dài với những người mỗi năm tái phát từ 6 lần trở lên. Phổ biến là dùng từ 6-18 tháng, khi mỗi năm chỉ còn tái phát từ 2 lần trở xuống thì ngừng dùng. Nhưng người ta cũng đã từng dùng cho những người đặc biệt liên tục đến 13 năm. Thuốc chọn dùng là một trong 3 kháng virus acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Tuy dùng liều thấp hơn trong đợt điều trị cấp tính (bằng khoảng một nửa đến hai phần ba) nhưng vì dùng thường xuyên, lâu dài nên thuốc có tác dụng phụ (tuy không lớn) và tốn kém.

Cách chữa viêm móng

Dùng theo trình tự: trong giai đoạn cấp (có bội nhiễm, lở loét, rỉ nước vàng) ngâm dung dịch diệt khuẩn, uống kháng sinh kháng khuẩn..
Nếu có viêm móng thì bóc móng, uống gricin từ 3-6 tháng.
Các kháng sinh kháng khuẩn: Nếu có bội nhiễm, dùng các kháng sinh đặc hiệu.
Một vài lưu ý khi dùng:
Không nôn nóng dùng liều cao (bôi nhiều lần, mỗi lần bôi nhiều, uống tăng liều) nhưng lại phải dùng đều đặn, không bỏ dở. Dùng theo trình tự: trong giai đoạn cấp (có bội nhiễm, lở loét, rỉ nước vàng) ngâm dung dịch diệt khuẩn, uống kháng sinh kháng khuẩn. Đến giai đoạn khô (giảm nhiều hoặc hết lở loét, nước rỉ) dùng thuốc kháng nấm kết hợp bôi và uống với những thuốc dễ gây kích ứng như BSI nên dùng từng ít một (như nói trên) và dùng trong giai đoạn khô thì người bệnh đỡ bị buốt. Khi thương tổn đã lành phải điều trị duy trì ít nhất một tuần thuốc uống.
Song song với dùng thuốc phải giữ cho da sạch và khô: Trong điều trị, đặc biệt ở giai đoạn cấp nên nghỉ hẳn việc tiếp xúc với môi trường nước, ẩm. Trong dự phòng, nếu vì điều kiện nghề nghiệp phải tiếp xúc môi trường nước, ẩm thì ngay sau đó phải rửa sạch, lau khô. Nên ngâm chân bằng nước muối, nước phèn chua, nước trầu không, nước lá ổi đậm đặc. Rắc bột talc (hay acid boric, tanin, phèn phi) vào kẽ ngón chân nhưng sau đó (khoảng 4-5 giờ) phải làm sạch (tránh cho mồ hôi quyện với các chất này gây ẩm, tạo mùi khó chịu). Chỉ đi giày kín khi cần thiết, trường hợp khác nên đi dép thoáng, chú ý thay tất, luộc tất, dùng formol diệt nấm ở giày.
Nếu kết hợp được việc dùng thuốc, giữ cho da sạch, khô thì sẽ chữa khỏi, tránh tái phát bệnh.
Mụn rộp môi và thuốc.
Mụn rộp ở môi không phải do dị ứng hay thiếu vitamin C mà do virus herpes simplex nhóm I (khác với herpes simplex nhóm II gây mụn rộp bộ phận sinh dục). Khoảng 80% dân số có virus này nhưng nằm yên trong cơ thể, chỉ có khoảng 25% phát bệnh, xảy ra chủ yếu ở trẻ em và cả người lớn, khi có điều kiện thuận lợi. Mỗi đợt kéo dài 1-3 tuần, một năm có người tái phát 1-2 lần nhưng cũng có người đến 5-6 lần. Dấu hiệu dễ thấy là bị ngứa, nóng, rát, đỏ da, có cảm giác lăn tăn ở môi khoảng nửa tới một ngày, sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti, tập trung thành từng đám trên môi hay quanh môi (đôi khi còn ở miệng, má, cằm, mũi). Những mụn này chứa đầy dịch, khi bị vỡ, dịch chảy ra ngoài làm lây bệnh. Đường lây do tiếp xúc, chủ yếu qua môi (hôn, dùng chung khăn tay).
Trong trường hợp người bệnh có sức đề kháng vốn yếu hoặc bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch (như trẻ sơ sinh, thai phụ, ghép nội tạng, bị nhiễm HIV).